Hoa Sen

Hoa Sen
Quốc Hoa

Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2015

Nguồn gốc Việt (Nam) của tên gọi 12 con giáp - Ngọ ngựa (13A)


image

Phần này tóm tắt các chi tiết và bổ túc bài viết"Nguồn gốc Việt (Nam) của tên gọi 12 con giáp - Ngọ ngựa (phần 13)", do đó số thứ tự của bài viết này là 13A; những bài viết sau nữa về Ngọ ngựa sẽ có số thứ tự là 13B, 13C … để người đọc dễ tra cứu thêm. Tương tự như thế, các bài viết về Mão mẹo mèo được đánh số là 4, 4A, 4B ...v.v... Dấu hoa thị * dùng để chỉ âm cổ phục nguyên. Các tài liệu viết tắt là TVGT Thuyết Văn Giải Tự (khoảng 100 SCN), NT (Ngọc Thiên/543), ĐV (Đường Vận/751), NKVT (Ngũ Kinh Văn Tự/776), LKTG (Long Kham Thủ Giám/997), QV (Quảng Vận/1008), Tập Vận (TV/1037/1067), CV (Chính Vận/1375), TVi (Tự Vị/1615), VB (Vận Bổ/1100/1154), VH (Vận Hội/1297), LT (Loại Thiên/1039/1066), CTT (Chính Tự Thông/1670), Tự Vị Bổ (TViB/1666), KH (Khang Hi/1716), HNĐTĐ (Hán Ngữ Đại Tự Điển/1986), Thiết Vận (ThV/601), Vận Kinh (VK/1161), VBL (Dictionarium Annamiticum-Lusitanum-Latinum, Alexandre de Rhodes, 1615). Xem lại các cách đọc của các chữ liên hệ như mã, ngọ, ngự:

1. 午 có các cách đọc (thanh mẫu nghi 疑 vận mẫu mô 模 thượng thanh, khai khẩu nhất đẳng) theo phiên thiết

疑古切,音五 nghi cổ thiết, âm ngũ (TVGT, ĐV, QV, TV, VH, CV)
吳古切 ngô cổ thiết (NT, TTTH)
五故切 ngũ cố thiết (TV, LT)
阮古切 nguyễn cổ thiết (TV)
阮古切,音五 nguyễn cổ thiết, âm ngũ (TVi)
吾古切,音五 ngô cổ thiết, âm ngũ (CTT) - âm ngọ và ngũ đều đọc là wǔ theo giọng BK bây giờ so với giọng Quảng Đông ng5, Hẹ/Triều Châu ng3, ngou2
...v.v...


Giáp cốt văn/Kim văn/Tiểu triện/Khải thể của chữ Ngọ

Một dạng âm cổ phục nguyên của Ngọ là *ŋu dựa vào các âm địa phương TQ và âm Hán Việt (phiên thiết). Một nghĩa cổ của Ngọ (gốc Hán Tạng) là gặp (NT, QV, TV), đây cũng là lý do chữ ngỗ 迕 cũng dùng thông với chữ ngộ 遇 (mặt chạm mặt, đi ngược chiều nhau, gặp). Từ các nét khắc/vẽ trên Giáp Cốt và Kim văn, ta có thể thấy ngay chữ Ngọ tượng hình: giống như một cái dùi hay chày (giã gạo) và không liên hệ gì đến loài ngựa. Điều này còn thể hiện qua chữ xử 杵 nghĩa là cái chày, ngoài ra thành phần hài thanh Ngọ 午 có thể liên hệ đến động tác gõ (khõ), cú (cú đầu) đều có phụ âm đầu ở cuối lưỡi  (k, g, ŋ so với khấu 扣).

2.Chữ mã 馬 có các cách đọc (thanh mẫu minh 明 vận mẫu ma 麻 thượng thanh, khai khẩu nhị đẳng) theo phiên thiết

莫下切 mạc hạ thiết (TVGT, ĐV, QV, CV, LT)
莫下反 mạc hạ phản (LKTG)
莫把切 mạc bả thiết (NT, TTTH)
母下切,麻上聲 mẫu hạ thiết, ma thượng thanh (TV, VH)
滿補切,音姥 mãn bổ thiết, âm mỗ (TV, LT)
莫雅切,麻上聲 mạc nhã thiết, ma thượng thanh (TVi, CTT)
...v.v...

Giọng BK bây giờ là mǎ so với các giọng địa phương TQ như giọng Quảng Đông là maa5, Hẹ/Triều Châu ma1, ma3/bhê2 maⁿ2.
Mã có một dạng cổ phục nguyên là *ma hay *mra, gốc Hán Tạng so với tiếng Thái ม้า máa cùng nghĩa, các vết khắc/vẽ cổ cho thấy chữ mã tượng hình: giống hình con ngựa (dựng đứng để phù hợp với cách viết từ trên xuống dưới).


Giáp cốt văn/Kim văn/Tiểu triện/Khải thể của chữ mã

Rõ ràng là mã và ngọ không có tương quan ngữ âm rõ ràng trong tiếng Hán. Tuy nhiên học giả Paul K. Benedict2 có đề nghị rằng mã có nguồn gốc là *ŋ(w)a (hay ngựa tiếng Việt) sau khi so sánh các tên ngựa (tiếng Việt), ŋa/ka (tiếng Lê 黎 ở đảo Hải Nam), ngua (tiếng Nam Kelao), niau (tiếng Bắc Kelao), ngo (tiếng Lati) so với tên chi thứ 7 Ngọ mà GS Robert Schafer (1957) phục nguyên âm cổ là *m-ŋa. Benedict đưa ra một dữ kiện ngôn ngữ đáng chú ý là ŋa tiếng Lê ngoài nghĩa ngựa còn có nghĩa là mở ra (so với dạng ngỏ tiếng Việt và ngả).

3.Chữ ngự 馭 thường dùng làm chữ Nôm ngựa (Tam Thiên Tự, Ngũ Thiên Tự, Béhaine/Taberd ...); ngự (thanh mẫu nghi 疑 vận mẫu ngư 魚 khứ thanh, khai khẩu tam đẳng) có các cách đọc theo phiên thiết

牛倨切 ngưu cứ thiết (QV)
牛據切 ngưu cứ thiết (TVGT, TV)
魚據切,語去聲 ngư cứ thiết, ngữ khứ thanh (NT, CV, TVi, CTT)- TVi/CTT ghi thêm 音遇 âm ngộ (yù BK)
偶舉切 ngẫu cử thiết (LTCN)
...v.v...

Giọng Quảng Đông là jyu6 (so với yù BK), âm cổ được duy trì trong các giọng Hẹ/Triều Châu ngi3, ngi4, ngi5, ngi6.

Béhaine/1772

Ngừa (ngăn ngừa) chữ Nôm cũng dùng chữ ngự 馭. Chính nét nghĩa ngăn cản, kiểm soát (dùng như chữ ngự 御) đã dẫn đến dạng ngừa3 (tiếng Việt) từ ngự HV (dây cương). Tương tự trong các nền văn hóa khá, như cách dùng tiếng Anh rein (dây cương, danh từ - tiếng Pháp rêne) đã từ phạm trù cụ thể mở rộng nghĩa để chỉ hoạt động kiểm soát một cách tổng quát hơn:

The Government is keeping a tight rein on public expenditure.
(Nhà nước đang kiểm soát chặt chẽ/giữ chặt dây cương các chi tiêu công cộng)

To give somebody free rein (cho ai tự do hành/hoạt động/không còn dây cương chi phối - tiếng Pháp  donner carte blanche à quelqu'un).

Ta cũng thấy khuynh hướng mở rộng nghĩa từ cụ thể đến trừu tượng trong cách dùng tiếng Anh harness, bridle (cũng có nghĩa là dây cương).
Chữ ngự bộ mã cho ta biết nghĩa dễ dàng hơn vì có chữ mã và chữ hựu 又 (Kim văn tượng hình cái roi, Tiểu triện có hình bàn tay) so với chữ ngự bộ xích. Chữ ngự bộ mã hiện diện trong Tuân Tử, Chánh Luận 《荀子·正論》.



Kim văn/Tiểu triện/Khải thể của chữ ngự bộ mã


4. Chữ ngự 御 禦 có các cách đọc (thanh mẫu nghi 疑 vận mẫu ngư 魚 khứ thanh, khai khẩu tam đẳng) theo phiên thiết

牛據切 ngưu cứ thiết (TVGT, ĐV, NT, TV, LT, TTTH, CTT)- CTT ghi thêm âm ngộ 音遇
牛倨切 ngưu cứ thiết (QV)
魚據反 ngư cứ phản (LKTG)
偶舉切 ngẫu cử thiết (TV, LT)
魚駕切,牙去聲 ngư giá thiết, nha khứ thanh (TV)
五駕切,牙去聲 ngũ giá thiết, nha khứ thanh (TVi)
...v.v...

Các giọng địa phương TQ như Quảng Đông jyu6 ngaa6 so với Hẹ/Triều Châu ngi4/ngi6, yi4, gni6 - giọng BK bây giờ là yú.
Ngự bộ xích có nhiều nghĩa hơn so với ngư bộ mã: như điều khiển xe ngựa, tiến dâng, nghênh đón, cai trị ... (động từ) so với người đánh xe, người hầu … (danh từ). Chữ ngự bộ xích hiện diện trong Luận Ngữ, Vi Chánh 《論語·為政》, Mạnh Tử/Đằng Văn Công Hạ 《孟子·滕文公下》, Lễ Ký/Truy Y 《禮記·緇衣》, Tuân Tử/Đại Lược 《荀子·大略》, Thuyết Uyển/Tu Văn 《說苑·脩文》 ...v.v...



Kim văn/Tiểu triện/Khải thể của chữ ngự bộ xích

Một dạng âm cổ phục nguyên của ngự là *ngioh hay *ŋĭo dựa vào các âm đọc địa phương (còn bảo lưu âm cổ) và âm Hán Việt (phiên thiết).

5. Chữ hiếm ngũ 䮏 (Unicode 4B8F) từng được Tập Vận, Loại Thiên ghi là tên gọi ngựa - đây có thể là tàn tích của âm *ŋux (nghĩa là con ngựa) đã nhập vào tiếng Hán, nhưng không được dùng vì danh từ mã (gốc Hán Tạng) đã có! Chỉ có dạng Ngọ 午 (trong tên 12 con giáp) vẫn còn tồn tại vì liên hệ đến tín ngưỡng dân gian, cũng như dùng trong phép tính thời gian. Chữ 䮏 có các cách đọc theo phiên thiết

訛湖切 ngoa hồ thiết (LT) - có tài liệu (CTT) ghi vần hồ là 胡 (xem bảng chụp), âm ngũ 音五
五乎切 ngũ hô thiết (TVi, TTTH)
...v.v...

Giọng Quảng Đông là ng4/ng6 so với giọng BK bây giờ là wú.


 Tập Vận Loại Thiên


Có khoảng 30 tên gọi ngựa được KH ghi nhận (mã danh). Trong các danh từ thu lượm từ các nơi, ta có thể tìm gặp vết tích của một số tiếng địa phương4 (hay ngoại quốc nhập vào tiếng Hán) mà ít người biết đến. Các tiếng chỉ ngựa liên hệ là ngia4 (tiếng Rục, Thà Vựng, Cuối, Mường), măngơ (Maleng kari, brô), ŋa/ka (tiếng Lê 黎 ở đảo Hải Nam), ngua (tiếng Nam Kelao), niau (tiếng Bắc Kelao), ngo (tiếng Lati): ta có cơ sở vững chắc để phục nguyên một dạng âm cổ5 của ngựa là *ŋux. Chính dạng này đã được kí âm gần đúng bằng tiếng Hán ngọ/ngũ 午 trong tên gọi 12 con giáp, người Hán không hiểu tương quan giữa ngựa và Ngọ vì danh từ ngựa không nằm trong ngôn ngữ chính thống của họ (mã); vì thế họ còn dùng từ kép Ngọ mã 午馬 để cho dễ hiểu hơn!

6. Phụ chú và phê bình thêm
Phần này không hoàn toàn theo cách ghi tài liệu (Bibliography) tham khảo APA hay MLA vì bao gồm các phê bình thêm về đề tài, tài liệu và tác giả để người đọc có thể tra cứu thêm chi tiết và chính xác. Loạt bài "Nguồn gốc Việt (Nam) của tên gọi 12 con giáp" (cùng tác giả) đã có một số đăng trong Kỉ Yếu Hội Thảo Ngôn Ngữ Học, Việt Nam Học và các trang mạng văn hoá như vanchuongviet.org, khoahocnet.com, e-cadao.com ....v.v... Bạn đọc có thể tham khảo thêm từ các nguồn tài liệu trên, cùng với hai bài viết liên hệ đến phần này là "Chữ Ngọ, từ sợi dây cương đến con ngựa" của An Chi (đăng lần đầu tiên trên "Kiến Thức ngày nay" số 413 Xuân Nhâm Ngọ 2002) và bài "Le cycle des douze animaux: histoire d'un contact ancien entre Vietnam et Cambodge" của Michel Ferlus (Hội thảo Ngôn Ngữ Học - the sixth International Symposium on Pan-Asiatic Linguistics - Hà Nội 25-26 November 2004).


Tượng binh mã 兵馬俑 của Tần Thuỷ Hoàng (221 TCN) ở Tây An, Thiểm Tây TQ; trích từ bài viết"Timeline of the Development of the Horse" tác giả Berverley Davis đăng trên trang Sino-Platonic Papers 8/2007. Tác giả đề nghị ngựa nhập vào TQ khoảng 1200 đến 900 TCN và mã tiếng Hán có thể liên hệ đến mare (ngựa cái, tiếng Anh), mark (người cưỡi ngựa, tiếng Ái Nhĩ Lan) và maal (ngựa làm việc/workhorse, tiếng Ba Tư). Xem toàn bài trang này  http://www.sino-platonic.org/complete/spp177_horses.html

1) Nguyễn Cung Thông, 2009 "Nguồn gốc Việt (Nam) của tên gọi 12 con giáp - Ngọ ngựa (phần 13)" - xem toàn bài trang này http://newvietart.com/Ngo-Ngu-Ngua-1.pdf
2) Benedict, Paul K. 1975 "Austro-Thai, Language and Culture. With a Glossary of Roots" NXB HRAF Press (New Haven, Connecticut - Mỹ). Tác giả là một trong những học giả tiên phong đề nghị nguồn gốc phi-Hán của một số thành phần văn hoá ngôn ngữ Trung Quốc: như số đếm lớn hơn 100 (vạn, triệu ...), tên 12 con giáp, tên một số loài cây như chuối, dừa ...v.v... Benedict cũng đưa ra nhận xét là tiếng Lê (Hải Nam) ŋa (ngựa) còn có nghĩa là mở (mở miệng, mở cửa, mở mắt ...) - theo người viết (NCT), điều này còn tương ứng với ngửa và ngỏ tiếng Việt (ngửa mặt, ngửa tay ... ngỏ lời/mở lời). Theo Benedict, có thể mở (ngửa) chân ra để cưỡi ngựa liên hệ đến tên gọi loài vật này hay ngựa (trang 289-290, sđd).
3) theo học giả An Chi/AC (2000), và dựa vào Vương Lực (1948), thì danh từ ngựa có gốc là động từ ngự: từ 'giữ ngựa' chuyển thành 'con vật được chăn giữ'. Thật ra khuynh hướng ngược lại mới thường xẩy ra hơn (tự nhiên hơn, vì ngựa hiện diện trước các dụng cụ liên hệ như yên ngựa, dây cương ...). Hãy xem các từ chỉ dây cương trong vốn từ Hán:

Đích 靮 bộ cách
Bá 靶 bộ cách
Không 鞚 bộ cách (cũng là cái dàm)
Huyễn 䩙 bộ cách (cũng là đao)
Cách 䪂 bộ cách
Điêu 䩦 bộ cách
Cương 韁 bộ cách
...
Cương 繮 bộ mịch
Tiết  絏 bộ mịch (cũng là dây trói buộc) - hay còn viết là 紲
Nhĩ  䋙 bộ mịch
...
Bí 轡 bộ xa
Nạp 軜 bộ xa
...v.v…
Tất cả các danh từ chỉ dây cương trên không có từ nào chuyển nghĩa theo hoán dụ để chỉ con ngựa theo cách lý giải của AC! Vấn đề có lẽ thấy rõ hơn khi ta xem lại cách dùng của bộ mã trong quá trình cấu tạo chữ Hán. Tuấn 駿 nghĩa nguyên thuỷ là con ngựa tốt, mở rộng nghĩa để chỉ phẩm chất tài giỏi, trí tuệ vượt bực và thông với tuấn bộ nhân 俊. Khảo sát tâm lý loài ngựa cho thấy chúng rất dễ bị hoảng sợ khi thấy một vật gì hay sự việc gì không bình thường: đây là hiện tượng fight or flight trong Sinh học - tạm dịch "là chống hoặc bỏ chạy"/phản ứng stress cấp tính. Đây là một lý do mà chữ hãi (sợ hãi) được viết bằng bộ mã hợp với chữ Hợi (hãi) hài thanh 駭, sau này mở rộng nghĩa để chỉ trạng thái sợ hãi một cách tổng quát. Chữ kinh (kinh hãi) cũng viết bằng bộ mã 驚, sau này viết bằng bộ tâm 惊 (giản thể, cho rõ nghĩa hơn). Chữ kiêu (kiêu ngạo) cũng viết bằng bộ mã 驕 ...
4) Các tài liệu cổ TQ ghi lại âm đắc/đức 淂 chỉ nước (nác) là chữ hiếm với tần số dùng là 161 trên 171894734; Ngọc Thiên ghi cách đọc 淂 là 淂勒切 đô lặc thiết (đắc) - 水也 thuỷ dã, so với 都則切 đô tắc thiết (QV), 的則切,音德 đích tắc thiết, âm đức (TV, LT), 多則切,音德 đa tắc thiết, âm đức (TVi, CTT), 丁力切,音滴 đinh lực thiết, âm tích/trích (QV). Đắc HV còn trở thành được trong tiếng Việt, tương ứng với quá trình (đák) nác trở thành nước. Trần Cương Trung (thế kỷ XIII) còn ghi âm nước là lược 掠 (Sứ Giao Châu tập). Nghĩa nguyên thuỷ nước (chất lỏng) của đắc/đức trong các tài liệu TQ sau này đã tiếp biến để trở thành ‘thuỷ mạo’ (óng ánh hay long lanh như mặt nước/QV/LT/TVi) hay ‘thuỷ danh’ (tên sông/TV) để người Hán có thể hiểu được! CTT còn ghi là không nên dùng tục tự này cho chữ đắc 得  (dị thể). Dạng nác (nước) còn được duy trì trong các tiếng địa phương VN như Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hoá (cd. khôn ăn nác, dại ăn xác) ... So với dạng dak3 (Mường Bi, Nguồn), dak2 (Chứt), tik/tưk (Khme), dak (Môn, Rơngao, Sakai, Biat), đek/đak (Mnông), đaq (Tà Ôi, Chơro, Kơho) ...v.v... Một số địa danh, sông ngòi cũng dùng *đak (nước) cho thấy rõ ràng âm này đến từ phương Nam (so sánh với giang - *krong/krung - sông). Đây là một đề tài rất thú vị nhưng không nằm trong phạm vi bài viết này.
Ngọc Thiên  Long Kham Thủ GiámQuảng Vận


5) Một dạng âm cổ phục nguyên của Ngọ là *zŋagx theo GS William G. Boltz (bài viết "The Old Chinese Terrestrial Rames in Saek" đăng trong cuốn "Studies in the Historical Phonology of Asian Languages" NXB John Benjamins, 1991). Dạng này có thể giải thích các dạng sa-nga (tiếng Lü) Một dạng âm cổ phục nguyên của Ngọ là *zŋagx theo GS William G. Boltz (bài viết "The Old Chinese Terrestrial Rames in Saek" đăng trong cuốn "Studies in the Historical Phonology of Asian Languages" NXB John Benjamins, 1991). Dạng này có thể giải thích các dạng sa-nga (tiếng Lu), shi-nga (tiếng Ahom)... Một dạng âm cổ phục nguyên của ngựa là *m-ŋɨa? (theo Michel Ferlus, 2004 - bài viết đã dẫn phần đầu); dạng phục nguyên này rất khó giải thích các âm sa3, sa4 của tiếng Dioi và Pu yi được Jerry Norman ghi nhận (bài viết "A note on the origin of the Chinese Đuoenary cycle" đăng trong cuốn "Linguistics of the Sino-Tibetan area - state of the art" Pacific Linguistics, Series C No. 87 - 1985).

Đăng ký lấy RSS cho bình luậnBình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

Sự tích lễ Vu Lan


image
Trong hàng Thánh chúng, ngài Mục-kiền-liên không những là vị Tôn giả thần thông số một, bản tánh năng động mà còn là một vị có hiếu đạo bậc nhất. Sau khi đắc quả A-la-hán nhớ đến công lao sinh thành của mẹ ngài liền vận dụng thần thông đi khắp trên trời dưới đất để tìm mẹ. Khi vào địa ngục, Mục-kiền-liên thấy mẹ bị đọa làm quỷ đói, thân hình tiều tụy đói ăn khát uống. Thương mẹ một tay ngài gạt nước mắt một tay làm phép dâng cơm cho mẹ. Mừng quá, nhưng vì tánh bỏn xẻn bà Thanh-đề dùng tay trái che bát giấu kẻ khác, tay phải bốc cơm đưa vào miệng. Nhưng cơm vừa tới miệng đã hóa thành lửa đỏ, bà không thể nào ăn được. Mục-kiền-liên rơi nước mắt, lòng buồn vô tận! Ngài vận đủ mọi phương tiện để cứu mẹ, nhưng mọi phép thần thông vẫn không có kết quả.
Mỗi năm đến Rằm tháng Bảy không riêng gì người con Phật mà hầu như mọi người đều thiết lễ hội Vu Lan tức Ullambana để báo đền ân đức dưỡng dục sinh thành của đấng song thân. Nói tới lễ hội Vu Lan là nói tới bản hạnh hiếu để của Tôn giả Mục Kiền Liên. Ngài là nhân vật có thật trong lịch sử sinh cùng thời với Đức Phật Shākyamuni. Tên thật của ngài là Kolitha Moggallana.
Theo các sách sử Phật giáo thì Mục-kiền-liên chào đời tại một ngôi làng nhỏ gần kinh đô Patna của vương quốc Magadha, nay thuộc tiểu bang Bihar, Ấn Độ. Ông được cho là thuộc dòng dõi Mudgala, tức là "Thiên văn gia". Tầng lớp Mudgala thuộc giai cấp quý tộc, được tôn kính và giàu có, vì vậy Mục Kiền Liên từ nhỏ đã sống trong nhung lụa, không thiếu thốn bất cứ món gì và được hưởng một nền giáo dục hoàn chỉnh theo truyền thống Bà la môn giáo.

Tuy nhiên, trong một lần cùng người bạn Upatissa (sau này là Tôn giả Xá Lợi Phất) dự hội "Hội Sơn Thần", ông chợt ngộ ra và tâm tưởng về Tử Biệt Sinh Ly giữa cuộc đời. Từ đó, hai người quyết định tìm đường Giải thoát, sống đời Đạo sĩ, thoát ly gia đình, dứt bỏ mọi sự buộc ràng của giai cấp của Bà la môn.
Trên bước đường cầu đạo, ông cùng Xá-lợi-phất đã thỉnh giáo nhiều đạo sĩ cao nhân, tiếp thu nhiều tư tưởng triết học khác nhau. Tuy nhiên, cả 2 đều sớm nhận ra những khiếm khuyết của các giáo thuyết, vì vậy cả 2 tiếp tục tìm kiếm. Một lần khi ra phố, Xá-lợi-phất vô tình gặp Tôn giả Assaji (Mã Thắng), một trong 5 vị đệ tử đầu tiên của Đức Phật Shākyamuni. Được Assaji khai ngộ về Tứ diệu đế, Xá-lợi-phất liền đắc Pháp nhãn (Dhamma Cakkhu) chứng quả Nhập Lưu - Tu Ðà Hườn (Sotàpatti). Sau khi về nơi trọ, ông thuật lại cho Mục-kiền-liên nghe. Cũng như Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên nhanh chóng giác ngộ đạo giải thoát nhờ vào khai thị của Tôn giả Assaji. Từ đó, 2 ông gia nhập Tăng đoàn và trở thành một trong những Thánh chúng nổi bật nhất được ghi nhận trong Lịch sử Phật giáo.
Trong hàng Thánh chúng, ngài Mục-kiền-liên không những là vị Tôn giả thần thông số một, bản tánh năng động mà còn là một vị có hiếu đạo bậc nhất. Sau khi đắc quả A-la-hán nhớ đến công lao sinh thành của mẹ ngài liền vận dụng thần thông đi khắp trên trời dưới đất để tìm mẹ. Khi vào địa ngục, Mục-kiền-liên thấy mẹ bị đọa làm quỷ đói, thân hình tiều tụy đói ăn khát uống. Thương mẹ một tay ngài gạt nước mắt một tay làm phép dâng cơm cho mẹ. Mừng quá, nhưng vì tánh bỏn xẻn bà Thanh-đề dùng tay trái che bát giấu kẻ khác, tay phải bốc cơm đưa vào miệng. Nhưng cơm vừa tới miệng đã hóa thành lửa đỏ, bà không thể nào ăn được. Mục-kiền-liên rơi nước mắt, lòng buồn vô tận! Ngài vận đủ mọi phương tiện để cứu mẹ, nhưng mọi phép thần thông vẫn không có kết quả.
Ngài trở về bạch Phật sự tình và hỏi lý do. Đức Phật từ bi dạy rằng:
– Này Mục-kiền-liên, lúc sanh tiền mẹ ông đã hủy Phật báng Tăng, không tin nhân quả luân hồi, lại rất bỏn xẻn, chẳng bao giờ bố thí cho ai, kể cả 1 hạt hạt gạo cho con kiến cũng không. Vì thế, sau khi chết bà phải chịu quả báo như thế. Ông tuy là con người hiếu đạo, thương cha nhớ mẹ, muốn đền đáp thâm ân, nhưng sức của ông có hạn. Dù có thần thông, một mình ông cũng không thể giải cứu nghiệp lực cho mẹ. Ông hãy đợi đến Rằm tháng Bảy, ngày chư Phật hoan hỷ, chư Tăng thanh tịnh sau 3 tháng an cư kiết hạ, thiết lễ Vu Lan nhờ sức chư đại Tăng cùng chú nguyện thì mẹ ông mới thoát khỏi được cảnh địa ngục.
Theo như lời Phật dạy, ngày Rằm tháng Bảy, ngài Mục-kiền-liên thiết lập trai đàn dâng cúng dường mười phương Tăng chúng, cầu hùng lực đại Từ đại Bi của chư đại Tăng chú nguyện. Với đạo nghiệp thanh tịnh tấn tu trong 3 tháng hạ, nguyện lực của chư Tăng không những cứu giúp cho bà Thanh-đề mà còn nhiều người khác trong ngày đó cũng được thoát khỏi cảnh địa ngục tối tăm.
Kinh Vu Lan, lễ Vu Lan có từ đó. Tên gọi Vu Lan Bồn (Ullambana) có nghĩa là “cứu cái khổ bị treo ngược”.
Chân Minh sưu tập.

Phật nói Kinh Vu Lan Bồn

Ta từng nghe lời tạc như vầy:
1. Một thuở nọ Thế-tôn an-trụ
Xá-vệ thành Kỳ-thụ viên trung,
Mục-liên mới đặng lục-thông,
Muốn cho cha mẹ khỏi vòng trầm-luân.

Công dưỡng-dục thâm-ân dốc trả,
Nghĩa sanh thành đạo cả mong đền,
Làm con hiếu-hạnh vi tiên,
Bèn dùng huệ-nhãn dưới trên kiếm tầm.

Thấy vong-mẫu sanh làm ngạ-quỷ,
Không uống ăn tiều-tụy hình-hài.
Mục-liên thấy vậy bi-ai,
Biết mẹ đói khát ai-hoài tình thâm.

2. Lo phẩm-vật đem dâng từ-mẫu,
Ðặng đỡ lòng cực khổ bấy lâu.
Thấy cơm mẹ rất lo âu,
Tay tả che đậy, hữu hầu bốc ăn.
Lòng bỏn-xẻn tiền-căn chưa dứt,
Sợ chúng ma cướp dựt của bà.
Cơm đưa chưa tới miệng đà,
Hóa thành than lửa nuốt mà đặng đâu.

Thấy như vậy âu-sầu thê-thảm,
Mục-kiền-liên bi-cảm xót thương,
Mau mau về đến giảng-đường,
Bạch cùng sư-phụ tìm phương giải nàn.

3. Phật mới bảo rõ ràng căn-cội,
Rằng mẹ ông gốc tội rất sâu.
Dầu ông thần-lực nhiệm-mầu,
Một mình không thể ai cầu được đâu.
Lòng hiếu-thảo của ông dầu lớn,
Tiếng vang đồn thấu đến cửu-thiên
Cùng là các bực Thần-kỳ
Tà, ma, ngoại-đạo, bốn vì Thiên-vương

Cộng ba cõi sáu phương tu-tập,
Cũng không phương cứu-tế mẹ ngươị
Muốn cho cứu đặng mạng người,
Phải nhờ thần-lực của mười phương Tăng.

4. Pháp cứu-tế ta toan giải nói
Cho mọi người thoát khỏi ách-nàn
Bèn kêu Mục-thị đến gần,
Truyền cho diệu-pháp ân-cần thiết thi
Rằm tháng bảy là ngày Tự-tứ
Mười phương Tăng đều dự lễ này
Phải toan sắm sửa chớ chầy
Thức ăn trăm món trái cây năm màu

Lại phải sắm giường nằm nệm lót
Cùng thau, bồn, đèn đuốc, nhang, dầu,
Món ăn tinh-sạch báu mầu
Ðựng trong bình-bát vọng-cầu kính dâng

Chư Ðại-đức mười phương thọ-thực
Trong bảy đời sẽ đặng siêu thiên
Lại thêm cha mẹ hiện-tiền
Ðặng nhờ phước-lực tiêu-khiên ách-nàn.

5. Vì ngày ấy Thánh-tăng đều đủ
Dầu ở đâu cũng tụ-hội về.
Như người Thiền-định sơn-khê
Tránh điều phiền-não chăm về thiền-na
Hoặc người đặng bốn tòa đạo quả
Công tu-hành nguyện thỏa vô-sanh
Hoặc người thọ hạ kinh-hành
Chẳng ham quyền-quý ẩn-danh lâm-tòng

Hoặc người đặng lục-thông tấn-phát
Và những hàng Duyên-giác, Thanh-văn
Hoặc chư Bồ-tát mười phương
Hiện hình làm sãi ở gần chúng-sanh

Ðều trì giới rất thanh, rất tịnh
Ðạo-đức dày, chánh-định chơn-tâm
Tất cả các bực Thánh, Phàm
Ðồng lòng thọ-lãnh bát cơm lục-hòa

6. Người nào có sắm ra vật-thực
Ðặng cúng-dường Tự-tứ Tăng thời
Hiện-tiền phụ-mẫu của người
Bà con quyến-thuộc thảy đều nhờ ơn
Tam-đồ khổ chắc rằng ra khỏi
Cảnh thanh-nhàn hưởng-thọ tự-nhiên.
Như còn cha mẹ hiện-tiền
Ðó nhờ cũng đặng bá niên thọ-trường

Như cha mẹ bảy đời quá-vãng
Sẽ hóa-sanh về cõi thiên-cung
Người thời tuấn-tú hình-dung
Hào-quang chiếu sáng khắp cùng châu-thân

7. Phật dạy bảo mười phương Tăng-chúng
Phải tuân theo thể-thức sau này:
Trước khi thọ thực đàn chay
Phải cầu chú-nguyện cho người tín-gia.
Cầu thất-thế mẹ cha thí-chủ
Ðịnh tâm-thần quán đủ đừng quên
Cho xong ý-định hành-thiền
Mới dùng phẩm-vật đàn-tiền hiến-dâng.

Khi thọ-dụng nên an vật-thực
Trước Phật-đài hoặc tự tháp trung:
Chư Tăng chú nguyện viên dung
Sau rồi tự-tiện thọ dùng bữa trưa

8. Pháp cứu-tế Phật vừa nói dứt
Mục-liên cùng Bồ-tát chư Tăng
Ðồng nhau tỏ dạ vui mừng
Mục-liên cũng hết khóc thương rầu buồn
Mục-liên mẫu cũng trong ngày ấy
Kiếp khổ về ngạ-quỷ được tan
Mục-liên bạch với Phật rằng:
"Mẹ con nhờ sức Thánh-Tăng khỏi nàn

Lại cũng nhờ oai thần Tam-bảo
Bằng chẳng thì nạn khổ khó ra
Như sau đệ-tử xuất-gia
Vu-lan-bồn pháp dùng mà độ sanh

Ðộ cha mẹ còn đương tại thế
Hoặc bảy đời có thể đặng không ?"
Phật rằng: "Lời hỏi rất thông
Ta vừa muốn nói con dùng hỏi theo

9. Thiện-nam-tử, tỳ-kheo nam nữ
Cùng quốc-vương, thái-tử, đại-thần
Tam-công, tể-tướng, bá-quan
Cùng hàng lê-thứ vạn dân cõi trần
Như chí muốn đền ơn cha mẹ
Hiện-tại cùng thất-thế tình thâm
Ðến rằm tháng bảy mỗi năm
Sau khi kiết-hạ chư Tăng tựu về

Chính ngày ấy Phật đà hoan-hỉ
Phải sắm sanh bá vị cơm canh
Ðựng trong bình-bát tinh-anh
Chờ giờ Tự-tứ chúng Tăng cúng-dường

Ðặng cầu-nguyện song-đường trường-thọ
Chẳng ốm đau, cũng chẳng khổ chi
Cùng cầu thất-thế đồng thì
Lìa nơi ngạ-quỷ sanh về nhơn, thiên

Ðặng hưởng phước nhân duyên vui đẹp
Lại xa lìa nạn khổ cực thân
Môn-sanh Phật-tử ân-cần
Hạnh tu hiếu-thuận phải cần phải chuyên

10. Thường cầu-nguyện thung-huyên an-hảo
Cùng bảy đời phụ-mẫu siêu-sanh
Ngày rằm tháng bảy mỗi năm
Vì lòng hiếu-thảo thâm-ân phải đền
Lễ cứu-tế chí-thành sắp đặt
Ngỏ cúng-dường chư Phật chư Tăng
Ấy là báo đáp thù ân
Sanh-thành dưỡng-dục song-thân buổi đầu

Ðệ-tử Phật lo âu gìn-giữ
Mới phải là Thích-tử Thiền-môn
Vừa nghe dứt pháp Lan-bồn
Môn-sanh tứ-chúng thảy đồng hỉ-hoan

Mục-liên với bốn ban Phật-tử
Nguyện một lòng tín-sự phụng-hành !
 

Đăng ký lấy RSS cho bình luậnBình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

Chân Thiện Mỹ


image
Đạo Phật giúp chúng ta tu tập năm giới vững vàng, truyền cho chúng ta thập thiện để hướng đến con đường thuần thiện.
Từ xưa đến nay, thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam đã lưu tồn nhiều phong tục, trong đó có phong tục nói lời chúc. Thông thường, người ta chúc nhau Tam đa, đó là đa phúc, đa lộc và đa thọ. Cụ thể hơn, mọi người chúc nhau tài lộc dồi dào, phát đạt giàu sang, an khang thịnh vượng, sống lâu trăm tuổi... Trong mọi lời chúc luôn hàm chứa niềm tin tốt đẹp của cuộc sống chân-thiện-mỹ. Vậy ý nghĩa của chân-thiện-mỹ là gì? Đây là ba khía cạnh tạo nên sự toàn bích của cuộc sống, ba khía cạnh này có quan hệ mật thiết với nhau. Truyền thống Đông phương thường nhắc nhở mọi người ăn ở, sống và ứng xử sao cho cuối cùng đạt được cuộc sống hoàn mỹ, còn giáo lý nhà Phật khuyên chúng ta hãy cố gắng tu tập hướng đến mục tiêu chính là cuộc sống hướng thiện, giải thoát, tự tại. Vì thế, mọi người cần có sự chân thật, hướng về nẻo thiện và đạt được thẫm mỹ nơi thân tâm mình. Người nào đạt được ba điều đó thì người ấy hạnh phúc nhất trần gian.
Khía cạnh thứ nhất, nói về “chân” thì có hai nghĩa, một là chân thật, hai là chân lý. Nếu quan hệ giao tiếp giữa con người với con người thiếu chân thật thì sẽ mất lòng tin, mất tình người, mất đi lẽ sống, gặp nhiều chướng ngại rồi đưa đến thất bại. Ngược lại, nếu biết tế nhị trong giao tiếp, chân thành trong hành động và thân thiện với mọi người thì sẽ dễ dàng gặt hái được nhiều thành công. Nếu sống trung thực thì trong cách đối nhân xử thế sẽ không quan hệ giao tiếp chỉ bằng hình thức mà bằng cả tấm lòng chân thành, không giả dối, không hư ngụy. Vì thế, sự chân thật rất cần thiết đối với con người. Cho nên tất cả chúng ta phải hướng đến cách ứng xử theo đúng đạo lý để xứng đáng được mọi người tôn trọng. Chân thật còn là trạng thái chân chất, hồn nhiên, trong sáng tự cõi lòng mỗi người, nhưng dần dần mất đi do sau này huân tập những chủng nghiệp không tốt, không lành khi tiếp xúc với thế giới bên ngoài, nên người ta thường nói phải tập sống theo hạnh Anh nhi, không gian dối, không tính toán. Chúng ta cần tu tập để gột rửa vô minh, phiền não và trở về sống hồn nhiên, trong sáng, trạng thái đó gọi là chân. Tiếp theo là chân lý của cuộc sống mà tất cả mọi người đều hướng đến. Chẳng hạn, nói về các pháp là vô thường, giả tạm, duyên sinh, vô ngã, con người có sanh phải có tử, có hợp phải có tan, có còn phải có mất, đó là chân lý không bao giờ thay đổi. Chúng ta cần phải hướng về lẽ chân thật, thoát khỏi mê lầm, không còn vô minh tăm tối, biết thân này là bất tịnh, cuộc đời này như giấc chiêm bao mà hướng đến ánh sáng chân lý. Trong ba khía cạnh toàn bích của cuộc sống, trước tiên phải đạt đến lẽ chân. Để hướng đến lẽ chân, người ta cần sống chân chất, hồn nhiên, trong sáng tự cõi lòng, không hề giả dối với bất cứ ai trong cách đối nhân xử thế. Chân lý vô thường, duyên sinh, vô ngã, giả tạm của cuộc sống là như thật nên cần thắp lên ngọn đèn trí huệ để không sai lầm. Chúng ta là người đệ tử Phật cần thấy được lẽ chân thật của đạo lý để không còn mê lầm giữa thật với giả. Theo quan niệm thế gian, những gì tồn tại đều là thật nhưng thực ra là giả, vì tất cả đều là vô thường, duyên sinh, bằng những yếu tố khác nhau kết hợp lại, phải vay mượn nhiều yếu tố, nhiều nhân duyên và nhiều điều kiện để tạo thành, nên có mặt một cách giả tạm, sau một thời gian thì tàn phai. Con người được sanh ra rồi chết đi, có hợp rồi có tan, có sanh thì có diệt, có còn thì phải có mất, đó chính là lẽ tự nhiên. Cho nên người nào quên được cái giả thì sẽ sống được gần với cái thật, mà sống với cái chân thật thì sẽ không còn mê lầm với cái giả tạm nữa. Vì thế, chúng ta cần phải khéo léo nhận biết giữa cái giả tạm và cái chân thật. Người chưa biết tu thì thấy thân này là mình, nhưng khi học hiểu giáo lý đạo Phật, nghe quý Thầy thuyết pháp thì hiểu được thân này là vay mượn các yếu tố đất, nước, gió, lửa hợp thành, nếu rời các yếu tố đó thì chẳng còn tồn tại. Con người đến với cõi đời là mang thân tạm đến cõi tạm, không thể trường sinh bất tử được. Đạo lý này khuyên nhủ, nhắc nhở và thức tỉnh chúng ta đừng quá mê muội rồi tạo nghiệp mà thọ khổ triền miên. Khi thấy được cái giả của thân, của tâm, của cảnh thì hiểu được đạo lý, hiểu được ý nghĩa của chân thật, sẽ sống bằng tình thương và lòng nhân ái đối với mọi người.
Khía cạnh thứ hai, “thiện” là gì? Thiện là một đời sống hiền thiện, làm lành tránh ác. Con người biết hướng thiện thì được người đời hâm mộ, nể trọng và quý kính. Điều thiện giúp mọi người sống có lương tâm, lương tri. Chính cái thiện tạo cho con người biết độ lượng bao dung, biết tha thứ và thông cảm, biết che chở, đùm bọc và cưu mang. Nhờ lẽ đó, con người làm được mọi hạnh lành, xây dựng cuộc sống tươi đẹp và trở nên nhân hậu. Nếu cuộc đời không có cái thiện thì con người sẽ sống tà ác, xã hội loài người ngày càng rối ren. Cuộc đời phải được xây dựng từ cái thiện thì cuộc sống mới có hạnh phúc chân thật. Nếu ai cũng hướng về nẻo thiện thì mỗi người là một tế bào lành mạnh của xã hội. Nếu trong gia đình, mọi người đều hướng đến cái thiện thì gia đình đó sẽ được an vui, hạnh phúc. Nếu xóm làng hướng đến cái thiện thì nơi ấy được bình yên, tránh được mọi tệ nạn xã hội. Người người, nhà nhà, làng xóm cho đến phố phường đều hướng tâm về nẻo thiện thì chắc chắn thế giới sẽ được hòa bình, an lạc, dân chúng được an cư lạc nghiệp. Trong xã hội có nhiều lãnh vực như: kinh tế, âm nhạc, hội họa, kiến trúc, điêu khắc, văn học, thi ca và còn có cả đạo lý, tâm linh... tạo nên bức tranh tổng thể về xã hội. Nếu tất cả chỉ lo làm giàu về của cải vật chất mà sống không có đạo đức thì sẽ tạo ra mầm họa lớn cho xã hội.
“Mái chùa che chở hồn dân tộc
Nếp sống muôn đời của Tổ tông.”
Đối với xã hội, ngôi chùa có vị trí vô cùng quan trọng trong lòng dân tộc, vì đây chính là nơi giúp con người chọn được lẽ sống hướng thiện, xóa mờ cái ác, tạo được niềm an vui hạnh phúc, đóng góp vào sự an bình của xã hội để tất cả cùng vui sống lành mạnh, tự do. Hướng tới cái thiện là hướng tới lương tâm, lương tri và lòng trắc ẩn. Tu theo đạo Phật là nguyện đoạn các điều ác, nguyện làm tất cả điều lành, nguyện thành Phật độ tất cả chúng sinh. Chúng ta quy y Tam bảo, giữ gìn năm giới cấm, không sát sanh, không trộm cắp, không tà hạnh, không nói dối, không uống rượu... chính là hướng đến đời sống gương mẫu đạo đức. Đạo Phật giúp chúng ta tu tập năm giới vững vàng, truyền cho chúng ta thập thiện để hướng đến con đường thuần thiện. Mười điều thiện đó là thân tam, khẩu tứ, ý tam. Thân tam là không sát sanh, trộm cắp, tà dâm. Khẩu tứ là không lưỡng thiệt, ác khẩu, vọng ngôn, ỷ ngữ. Ý tam là không tham, không sân, không si. Đạo Nho hướng mọi người tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Nếu không tu thân thì dễ trở thành người vô nghì, tà ác, hung hiểm và làm cho người khác sợ hãi tránh xa. Trong gia đình, nếu mọi người biết tu thân thì mới tề gia và từ đó sẽ hạnh phúc an vui. Ngoài xã hội có trị quốc thì mới có bình thiên hạ. Lý tưởng của đạo Nho khuyến khích mọi người làm người quân tử để tu tâm thì mỗi người phải biết sống có hiếu, biết ăn ở hiền lương, có tư cách đức hạnh, biết cách ứng xử đẹp trong cuộc sống.
Khía cạnh thứ ba, nói về “mỹ” tức là thẫm mỹ. Con người có chân thật, có thiện mà không có thẫm mỹ thì cuộc sống khô khan chưa được gọi là toàn bích. Cái đẹp của vóc dáng hình hài phải gắn liền song song với cái đẹp của đức hạnh, tư cách, nết na. Loài người có xu hướng vươn tới cái đẹp, chính là thẫm mỹ. Nếu chúng ta chân thật tận cõi lòng, hướng đến chân lý, tìm về nẻo thiện và làm tất cả mọi hạnh lành thì sẽ đạt được thẫm mỹ của cuộc sống. Đức Phật vốn biết chúng sanh luôn ưa chuộng cái đẹp nên mới thị hiện thân tướng của Ngài thật đẹp với ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp để tiếp cận và tiện bề giáo hóa chúng sanh. Có thể nói, trên thế gian chưa một ai có nhân dáng và hình hài đẹp bằng Đức Thế Tôn. Ngài đẹp cả về vóc dáng, đức hạnh và trí tuệ siêu phàm. Ngài có tấm lòng từ bi, hỷ xả, độ lượng và bao dung. Nếu một người sanh ra đời, đạt được tiêu chí của chân-thiện-mỹ thì người đó đạt được toàn hảo của cuộc sống. Đó là chân lý hiện sinh mà mỗi người có thể trải nghiệm ngay trong đời sống hiện tại này. Chân lý ấy là cái chung mà mỗi chúng ta đều có thể vươn tới, vì chân-thiện-mỹ không chỉ dành riêng cho bất cứ một ai. Bởi lẽ, chân thật cõi lòng, hướng đến đời sống thiện lành và đạt được thẫm mỹ thì cuộc sống sẽ đạt được chân lý hiện sinh. Đó chính là lẽ sống mà tất cả chúng ta thường chúc nhau đạt đến Chân-Thiện-Mỹ trong quan hệ giao tiếp hàng ngày.
                                                       
                                                    Thiền Tự Trúc Lâm Viên Giác
                                                          Xuân Ất Mùi - PL.2558

Đăng ký lấy RSS cho bình luậnBình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

Ăn chay thế nào cho đúng?


Ngày nay người ta ăn chay và theo đạo Phật ngày càng nhiều, có thể nói bất cứ ai trong chúng ta ít nhất trong đời đều có đôi lần ăn chay vì một duyên do nào đó chứ không hẳn là theo tôn giáo hay đạo Phật. Thế nhưng không phải ai cũng có thể hiểu đúng về ý nghĩa của việc ăn chay và vì sao phải ăn chay, nhất là đối với hàng cư sĩ (Phật tử tại gia) và những người trong buổi đầu ăn chay.
1. Hiện nay, chúng ta có thể bắt gặp các quán, nhà hàng chay có mặt ở khắp nơi từ những phố đông người đến những con hẻm nhỏ để phục vụ cho nhu cầu ăn chay ngày càng đông đúc của mọi người. Vào những ngày chay lạc nhất một ngày như Rằm và mùng 1 âm lịch hàng tháng người ta ăn chay rất đông, điều này có thể kiểm chứng ở các quán chay khi mọi người phải xếp hàng chờ mua. Vì sao ngày càng có nhiều người ăn chay như vậy? Câu hỏi này có thể trả lời một cách tóm tắt ở hai nguyên nhân được cho phổ biến nhất là do tôn giáo, nhất là Phật giáo phát triển mạnh mà tinh thần từ bi của nhà Phật là chay tịnh; kế đến là nhiều người ăn chay vì lý do trị bệnh, giữ gìn sức khỏe… Nói chung xuất phát từ nhiều lý do để người ta ăn chay ngày càng nhiều, xong không phải ai cũng có thể hiểu hết được ý nghĩa của việc ăn chay là gì? Và vì sao họ phải ăn chay?!
Ngày càng có nhiều quán, nhà hàng chay phục vụ cho đông đảo người ăn chay
Cá nhân người viết bài này cũng đã và đang thực hành ăn chay theo phương pháp “Thập trai” (tức ăn chay mỗi tháng 10 ngày theo những ngày nhất định). Nhớ lại trước đây, tôi không thể nào quên, biết bao những kỷ niệm vui của sự “ngây ngô” của buổi đầu ăn chay. 5 năm về trước, khi chưa là một Phật tử tôi cũng ăn chay, nhưng mục tiêu, ý nghĩa của việc ăn chay lúc đó khác với bây giờ. Ăn chay lúc đó là để tôi “trả lễ” chư Phật, Bồ tát khi tôi cầu nguyện một điều gì đó. Có những lần tôi cầu nguyện và “trả lễ” rất hậu hĩnh là ăn chay liên tiếp trong 1 tháng hoặc có khi là nửa năm. Và đương nhiên, với mục tiêu và ý nghĩa của việc ăn chay như thế, tôi đã phải xin lỗi và hẹn đi hẹn lại với chư Phật, Bồ Tát nhiều lần mới có thể “trả lễ” xong được! Tôi tin đó là việc mà rất nhiều người đang tập ăn chay trong buổi đầu sẽ mỉm cười và tỏ ý đồng cảm! Song, đó là một ý nghĩa và mục tiêu lệch lạc của việc ăn chay.
2. Tại sao chúng ta phải ăn chay? Theo quan điểm tiến bộ của khoa học hiện đại nghiên cứu và thí nghiệm thì, con người sinh ra là để ăn rau, củ, quả chứ không phải để ăn thịt, tức ăn chay thay vì ăn mặn. Thứ nhất, hai hàm răng của con người được cấu trúc một cách đặc biệt, lại có răng hàm cùng xương quai hàm để nghiền và nhai thức ăn giống loài động vật ăn rau quả, không ăn thịt sống. Trong khi đó, loài động vật ăn thịt sống có răng cửa và bộ răng nanh bén nhọn để xé thịt. Thứ hai, đối với loài người và những động vật ăn rau, củ, quả thì hệ tiêu hóa dài gấp 12 lần chiều dài của thân thể nên chúng ta cần nhiều thời gian hơn để tiêu hóa và bài tiết. Ngược lại đối với loài ăn thịt như hổ có hai phần ruột, phần ruột non thì rất ngắn và phần ruột già thì rất thẳng và mịn.
Vì thế, mỗi lần con người chúng ta ăn chay thì cảm thấy nhẹ nhàng và ngược lại, nếu ăn mặn thì cảm thấy nặng nề, khó chịu và buồn ngủ. Bởi vì, lúc đó thận phải làm việc nhiều để thanh lọc những độc tố từ thịt đưa ra khỏi máu và đào thải ra ngoài bằng đường bài tiết. Đối với những người trẻ tuổi, thận còn khỏe mạnh thì chưa ảnh hưởng gì nhiều; còn với những người lớn tuổi, thận càng ngày càng yếu thì quá trình đó sẽ diễn ra khó khăn hơn. Đôi khi thận không thể loại hết những cặn bã độc tố, làm cho máu dơ, từ đó dễ sinh bệnh. Hơn nữa thịt không có chất để tạo ra tế bào, táo bón là điều rất dễ xảy ra. Chúng ta cũng biết rằng, táo bón có thể gây ra ung thư ruột, bệnh trĩ… Ăn nhiều chất mỡ động vật thì sẽ dễ bị bệnh sưng gan hay sưng lá lách và làm giảm sự sinh trưởng tế bào. Chất Cholesterol và chất mỡ của động vật là gây ra bệnh tim và là một trong mười lý do làm chết người nhiều nhất ở Đài Loan.
Và không phải đợi đến khoa học, y học bây giờ mới nghiên cứu, mà theo các nhà nghiên cứu cổ hay các nhà thực vật học thì họ nguyên cứu rằng ăn những thực phẩm ngũ cốc, rau củ thì cơ thể của họ khỏe khoắn hơn, ít có bệnh nặng hơn so với những người ăn thịt cá, thực phẩm từ động vật. Trở về quá khứ hàng ngàn năm trước, đến cái nôi của văn hóa ăn chay, đó là xứ Ấn Độ. Quan điểm ăn chay được thiết lập trong đời sống cộng đồng con người từ ngàn xưa. Ăn chay thì có nhiều phương cách hay mục đích ý nghĩa của việc ăn chay. Mỗi tôn giáo có quan điểm, chủ thuyết ăn chay khác nhau. Không riêng gì Phật giáo mà Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, Kitô giáo… cũng có thuyết ăn chay nhưng ăn như thế nào, vào thời điểm nào, rồi phương cách ăn ra sao thì mỗi tôn giáo mỗi khác. Riêng với đạo Phật thì vì Phật giáo xuất phát từ Ấn Độ, mà nền văn minh cổ đại của Ấn Độ từ khi Đức Phật Thích Ca chưa ra đời thì người ta đã ăn chay rồi. Và đến bây giờ, sau hơn hai ngàn năm thì người dân Ấn Độ vẫn chuộng việc ăn chay, ăn ngũ cốc nhiều hơn thịt cá.
Tuy nhiên, cũng có nhiều người nói rằng, ăn chay không đảm bảo được sức khỏe và dinh dưỡng. Quan điểm này thường xuất phát từ những người vừa tập ăn chay và nhất là vì phương cách ăn chay của họ không đúng. Kế đến là do nhiều người thiếu thời gian, cộng với thiếu hiểu biết về thành phần dinh dưỡng nên khi ăn chay họ ăn vội, ăn đại khái cho xong. Nhưng họ không biết rằng ăn như vậy thì ảnh xấu đến sức khỏe là điều tất yếu. Họ ăn không đủ chất hoặc đưa vào cơ thể lượng dinh dưỡng này nhiều quá, mà lượng kia thiếu nên lượng dinh dưỡng không quân bình trong cơ thể mà dễ sinh bệnh. Còn người ăn đúng cách, đủ chất thì không bệnh gì cả, trái lại còn rất khỏe.
3. Ngoài ý nghĩa của việc ăn chay đối với sức khỏe của con người thì trong tôn giáo, nhất là Phật giáo việc ăn chay còn có một ý nghĩa sâu sắc hơn là thể hiện lòng từ bi. Trong đạo Phật thì lòng từ bi ở đây là do mình thương yêu các loài vật và mình nghĩ rằng mình có mạng sống thì chúng cũng có mạng sống; mạng sống của mình thì mình tôn trọng nên mình phải tôn trọng các mạng sống khác. Từ loài côn trùng nhỏ nhất ta phải thương chúng vì chúng có mạng sống, chúng nó cũng có cái thức biết dù cái thức ấy yếu. Nhưng theo Phật giáo Phát triển hay Phật giáo Đại thừa thì tất cả chúng sinh đều có Phật tính và chúng sinh đó sẽ thành Phật trong tương lai. Chúng ta giết chúng sinh ấy để ăn thì giống như mình giết một vị Phật tương lai vậy. Mình cắt đứt điều kiện để vị Phật này phát triển và hoàn thiện dần. Vì thế việc ăn chay, ngoài lòng từ bi cao cả là do mình thấy, biết thương các loài chúng sinh ấy như thương thân mình thì mình phải còn phải kính trọng chúng sinh đó tức là tôn kính với một vị Phật tương lai ở trong chúng sinh.
Người có giác ngộ, có trí tuệ, có hiểu biết thì mới có thể thể hiện lòng từ bi đúng mức nếu không thì mình chỉ vì thương hại, mình chỉ sợ là quả báo. Vì quả báo, vì lòng thương thì cũng đúng nhưng nó chỉ ở tầng mức và ý nghĩa của việc ăn chay như thế mới chỉ là tự lợi mình mà chưa lợi tha tức là lợi cho tất cả chúng sinh, tức là tôn trọng mạng sống của chúng, tôn trọng chúng sanh ấy như là một vị Phật, vị Bồ Tát trong tương lai. Đó mới chính là tinh thần cao cả của Phật giáo trong việc ăn chay.
4. Ăn chay và diệt dục. Ngoài những ý nghĩa của việc ăn chay đã nêu trên thì ăn chay còn có liên quan mật thiết đến việc giáo dục về tâm sinh lý của con người, cụ thể đó là vấn đề “diệt dục”. Dục ở đây là ham muốn về quan hệ thể xác. Vậy ăn chay tại sao lại có thể diệt dục được? Thoạt nghe câu hỏi này, nhiều người sẽ cho rằng ăn chay là tu, mà tu thì phải từ bỏ, đoạn diệt vấn đề đó. Tôi nhớ cách đây không lâu, vị sư là thầy tôi có giới thiệu một người đệ tử là Phật tử mới quy y để chia sẻ những vấn đề tu tập cơ bản nhất. Tôi có hỏi câu tương tự trên và cũng nhận được câu trả lời tương tự. Tôi hỏi tiếp, vậy bạn đã quy y, bạn có dám chắc là khi bạn ăn chay bạn sẽ từ bỏ luôn ái dục? Bạn ấy mỉm cười… Bạn ấy đã có gia đình! Nói tu là từ bỏ ái dục, điều này chỉ đúng ở hàng tu sĩ xuất gia, còn đối với hàng Phật tử tại gia thì chỉ cấm “tà dâm”, còn quan hệ trong hôn nhân vợ chồng thì không có trong giới cấm đối với cư sĩ.
Quan trọng nhất của ăn chay, diệt dục nằm ở vấn đề dinh dưỡng, y học. Trong thực phẩm chay thì hàm lượng dinh dưỡng không quá dư thừa, không quá béo bổ so với các loại thực phẩm từ động vật khác mà đặc biệt là não khỉ, trứng vịt lộn… vốn nhiều đạm, béo, protein… Khi ăn nhiều những thực phẩm bổ dưỡng ấy thì cơ thể con người dư năng lượng và dinh dưỡng. Chính năng lượng dư thừa này sẻ làm tăng ham muốn ái dục của con người. Mà điều đó làm cản trở lớn nhất cho con đường tu tập của người tu sĩ, Phật tử. Ngược lại, việc ăn thức ăn chay tịnh với rau, củ quả vốn không giàu dinh dưỡng đạm, béo… khiến tiêu hóa dễ dàng, thân tâm hành giả cảm thấy nhẹ nhàng, thúc đẩy quá trình tu tập mau thành quả.
Cho nên một hành giả tu tập họ tiết chế trong ăn uống, không những không ăn chiều, không ăn tối mà không ăn những thực phẩm nặng nhọc và hàm lượng dinh dưỡng cao. Trong nhà Phật với hàng tu sĩ xuất gia thì có chia ra 2 loại thực phẩm là thực phẩm cứng và thực phẩm mềm. Thực phẩm cứng là cơm, canh, bánh, trái các loại. Còn thực phẩm mềm là thực phẩm dạng lỏng như sinh tố, thực phẩm mà dùng không cần nhai, nghiền thì đó là thực phẩm mềm. Buổi chiều, tu sĩ dùng những thực phẩm ấy thì không phạm luật, phạm giới là cấm ăn chiều; trừ những trường hợp bệnh hoạn, ốm đau thì tu sĩ được phép ăn chiều với thực phẩm cứng như một thuốc chữa bệnh.
Trường chay và ăn chiều nhẹ là để thể hiện nhiều ý nghĩa mục tiêu của việc ăn chay đã nêu. Đó là lòng từ bi với muôn loài muôn vật, thể hiện sự công bằng đối với sức lao động của người, tránh đi quả báo sát hại về sau như yểu mạng, không có chuyện giết thân kẻ khác nuôi thân mình để được trường thọ. Trong Kinh có nói đến việc “ai cũng ham sống và sợ chết, phải suy ta mà ra lòng người, chớ giết và bảo giết là vậy”. Vì những ý nghĩa đó mà người Phật tử theo Phật giáo đại thừa phát tâm ăn chay.
5. Một câu hỏi thú vị được đặt ra là, nếu nói việc ăn chay là để thể hiện lòng từ bi, tôn trọng mạng sống chúng sinh, tôn trọng Phật tính trong mỗi chúng sinh, diệt dục… thì hàng tu sĩ thuộc phái Nam Tông họ không được khuyến khích ăn chay thì họ không có những đức tính kể trên hay sao? Như vậy thì họ tu cái gì và tu như thế nào?! Hàng ngàn năm qua cho đến bây giờ thì đây vẫn là một điều tế nhị, vẫn còn tranh cãi trong việc tu tập theo quan điểm, tư tưởng và truyền thống của mỗi bộ phái. Sự mâu thuẫn này được giới tu sĩ giải thích dựa vào điều luật trong Kinh sách và lịch sử cuộc đời của Đức Phật Thích Ca mâu Ni.
Ngày xưa, theo Kinh sách thì thời Đức Phật còn tại thế, mặc dù Người không chủ trương giết thát các loài súc vật để thể hiện lòng nhân từ nhưng trong 227 giới Pháp của các thầy Tỳ Kheo (khất sĩ nói chung) cho đến bây giờ không có giới nào là cấm thầy Tỳ Kheo ăn thực phẩm xuất phát từ nguồn động vật cả. Trong chế định Phật giáo không có điều luật nào cấm đoán, bắt buộc không ăn thịt, cá mà Ngài chỉ kêu gọi thể hiện lòng từ bi, cấm giết thác muôn loài. Chính vì căn cứ trên các điều đó mà các vị trường lảo và các bậc thầy trước đó của truyền thống Phật giáo Nam Tông đã có những biện luận riêng cho việc không ăn chay của hệ phái mình là đúng chánh pháp. Họ không phạm giới luật vì họ không trực tiếp giết.
Thực phẩm từ rau của quả tốt cho sức khỏe
Và cũng xuất phát từ quan điểm này của hệ phái Nam Tông nên mới có thuyết “Tam tịnh nhục” là vậy. Ngày xưa thời của Đức Phật tại thế thì có thuyết ngũ tịnh nhục nhưng ngày nay chỉ là “Tam tịnh nhạc”. Vậy “Tam tịnh nhục” trong khái niệm về thức ăn của nhà sư Nam Tông là gì? Đó là những thực phẩm mà các nhà sư này được ăn có nguồn gốc từ động vật, nhưng đó được gọi là thịt thanh tịnh. 3 loại thịt đó là: không nghe, không thấy và không nghi ngờ vì mình mà giết. Ví dụ có một gia đình thỉnh chư tăng ngày mai đến thọ trai, thế là gia đình ấy làm thịt mấy con gà, mấy con vịt, heo, bò để thiết đãi chư tăng. Khi chư tăng nghe nói lại là những thực phẩm dành cho mình được xuất phát như vậy thì chư tăng không được dùng. Hoặc khi chư tăng đi khất thực nghe tiếng rên la của những thú vật đó bị giết bởi một gia chủ trong đó và sau đó họ mang ra cúng tế chư tăng thì chư tăng cũng không được dùng. Ngược lại những thực phẩm đã được làm sẵn, mặc dù thực phẩm ấy xuất phát từ thịt động vật thì đối với Phật giáo Nam Tông thì đó là thực phẩm hợp luật, được dùng. Ngày xưa, thời của Đức Phật thì còn có hai loại thực phẩm thanh tịnh khác là con vật bị chết trong rừng, hoặc thịt của những con vật mà chúng bị các con vật khác ăn còn xót lại. Nhưng hai loại thực phẩm này thì hiếm nên ngày nay ta thường nói là Tam tịnh nhục.
Tuy nhiên đó chỉ là quan điểm “ăn chay” của bộ phái, truyền thống, còn căn cứ theo Kinh và Luật của Đức Phật thì cấm chế các thầy Tỳ Kheo việc giết thác các loài động vật. Tại sao lại cấm chế? Tức là để thể hiện những đức tính đã kể trên như tôn trọng mạng sống của muôn loài, thể hiện lòng từ bi, thương yêu muôn loài muôn vật, tránh nghiệp quả báo, tránh tổn mạng, yểu thọ. Vì thế ăn chay là thể hiện tốt nhất những đức tính đó, không ăn chay dù không trực tiếp giết nhưng chúng ta đã gián tiếp giết. Nếu ai cũng ăn chay thì chắc chắn vấn đề giết thác các sinh mạng động vật sẽ giảm thiểu đến mức tối đa và là người tu sĩ thì nên tiên phong trong việc ăn chay với những thức ăn chay tịnh. Đó cũng chính là quan điểm của chư tăng tu theo tư tưởng của Phật giáo Phát triển.
Thiết nghĩ chúng ta không thể biện luận rằng, Đức Phật không chế định các giới pháp, giới luật thì mình tự do ăn uống. Một vị hòa thượng thuộc hệ phái Khất Sĩ chia sẻ rằng: Nếu trong một ngôi chùa Nam Tông làm lễ lớn thết đãi vài ngàn người, mình là người chủ trong ngôi chùa ấy mà mình không chỉ dạy, sắp xếp việc ẩm thực thì làm sao cư sĩ phật từ dám làm. Mình chủ trương thết đãi bằng thực phẩm chay lạc, bế tắc lắm thì phải mua thực phẩm “mặn” từ bên ngoài chứ đừng giết thác trong chùa. Nâng lên một bậc cao hơn nữa thì không nên dùng những thực phẩm mặn ấy thết đãi chư tăng vì chư tăng là người thể hiện sự tu tập mà người tu tập thì thề hiện nhiều đức tính, trong đó có từ bi, thương yêu muôn loài muôn vật. Nên tốt nhất chúng ta, nhất là hàng tu sĩ nên dùng thực phẩm chay lạc hơn là thực phẩm từ thịt động vật có sẵn này.
Tuy nhiên, hiện tại thì một số nhà sư chưa làm được như vậy vì họ chưa vượt thoát ra được rào cản trong tông môn hệ phái, truyền thống, quan điểm tư tưởng, đặc biệt là ảnh hưởng đến quốc độ thời gian và không gian nơi đó. Ví dụ, có nhiều nước không thể có nhiều loại thực phẩm từ thực vật, ngũ cốc dồi dào được thì họ dùng tạm thực phầm từ thịt nêu trên. Ví dụ như sang các nước sa mạc hoang vu, tuyết phủ quanh năm… họ phải dự trữ những thực phẩm từ động vật bằng cách phơi, nướng… Nhưng qua xứ như Việt Nam chúng ta thì không nên ăn thực phẩm từ thịt động vật vì ngũ cốc dồi dào, thực phẩm chay lạc dễ tìm kiếm. Do những quan điểm trên mà người tu theo Phật giáo Phát triển hay còn gọi là Phật giáo Bắc Tông, Bắc Truyền, Phật giáo đại thừa trong đó có hệ phái Khất Sĩ do Tổ sư Minh Đăng Quang đã chủ trương là chỉ ăn thức ăn chay tịnh, có nguồn gốc từ thực vật. Cũng xin nói thêm rằng, ở Việt Nam có 3 truyền thống Phật giáo chính đó là Nam Tông, Bắc Tông và Khất Sĩ. Trong đó Bắc Tông và Khất Sĩ thì ăn chay còn chư tăng và tu nữ của phật giáo Nam Tông thì còn dùng thực phẩm mặn.
6. Ngoài những ý nghĩa cũng như những đức tính được thể hiện trong việc ăn chay đã kể trên thì ăn chay còn có một ý nghĩa khác đó chính là kiềm thúc thân, tâm trước những ham muốn về dục lạc bộc phát. Nhất là tham ăn những thực phẩm thịt, cá, những thực phẩm chế biến từ những thứ béo bổ từ sinh mạng chúng sanh khác để bồi bổ cơ thể rồi dẫn đến tham khoái lạc về xác thịt. Theo nhà Phật thì khi mình chiều theo khẩu nghiệp như thế thì sẽ trói buộc mình trong nghiệp báo. Ta cứ giết thát và xúi người khác giết thát đề mình ăn hoặc dâng người khác ăn. Mà ăn những thực phẩm đó thì dẫn đến việc dư nguồn năng lượng trong cơ thể nên làm tăng dục tính. Và đề đảm bảo những nhu yếu về sinh học, sinh lý thì những người đó chìm đắm quan hệ xác thịt. Cho nên những người nào quá chú trọng việc ăn uống nhiều thịt, cá thì đó là những người đa dục. Đặc biệt nói về ái dục.
Một số cư sĩ hiện nay cho rằng, mình ăn chay nhưng tùy theo sự tiện lợi tức là lúc ăn chay có thể ăn thịt cá được miễn sao mình không trực tiếp giết thác các loài thì không mang tội và không mang nghiệp báo. Tôi đã gặp nhiều quan điểm như thế của các cư sĩ. Dễ thấy quan điểm trên tương đồng với quan điểm về việc “ăn chay” của hệ phái Nam Tông. Như đã phân tích ở trên, quan điểm này nếu đứng theo gốc độ của bộ phái, truyền thống trong kinh luật của Đức Phật thì có những lý lẽ riêng để biện luận. Song thiết nghĩ, nếu đã phát tâm ăn chay mà ăn như vậy thì không còn là ăn chay nữa. Chay có nghĩa gốc là trai, tức là trai giới, là sự trong sạch. Chúng ta hay nghe nói đến Trai tịnh. Tịnh là trong sạch, trai là trì trai giữ giới tức người đó thúc liệm thân tâm, sự tu tập trong sạch để giữ gìn đời sống trong sạch, phạm hạnh. Một trong những ý trong đời sống trong sạch, phạm hạnh đó là không giết thát để ăn uống, quan hệ tính dục. Không riêng gì nhà Phật từ mà thời Vua chúa ngày xưa khi cầu mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an thì họ cũng phải ăn chay nằm đất trong mấy ngày để sạch sẻ thân và tâm; vào những ngày đó thì vua không đến hậu cung. Đó là trai giới trong sạch. Ăn chay mà nói ăn những thực phẩm mặn có sẵn thì đó không phải là ăn chay. Việc đó chỉ gọi là kiêng cử không sát sanh mà thôi. Theo quan điểm nhà Phật nói riêng và các tôn giáo nói chung thì ăn chay là không ăn thịt các sinh mạng của thú vật mà chỉ ăn các thực vật.
7. Nếu người phát tâm ăn chay nhận thức rõ ràng được mục tiêu và ý nghĩa của việc ăn chay thì người phật tử nói riêng và mọi người nói chung đều ăn chay một cách dễ dàng và ý nghĩa, đúng đắn. Chúng ta không nên ăn chay như trả nợ quỷ thần đó là những quan niệm ăn chay lệch lạc cần phải lên tiếng, xây dựng và góp ý. Ăn chay như vậy thì không còn ý nghĩa ăn chay cao thượng qua các tiêu chí như đã nói. Việc ăn chay đó chỉ lợi mình, không lợi người và cũng không phải lợi cho đời này đời sau. Ăn chay có ý nghĩa là lợi mình, lợi người, lợi chúng sinh, cả đời này lẫn đời vị lai. Ăn chay không chỉ để tránh quả báo, không chỉ dừng lại ở lòng từ bi mà còn tôn trọng sự công bằng của mạng sống…
Theo bình diện tổng thể đối với xã hội liên quan đến y học thì việc ăn chay bây giờ rất hợp thời. Đặc biệt là người phương Tây, ở các nước Bắc Mỹ, Âu Mỹ bây giờ người ta ăn chay nhiều, không phải họ theo Phật giáo mà trước tiên là để giữ gìn sức khỏe, tránh đi những bệnh tật, truyền nhiễm, hạn chế tối đa những bệnh béo phì, cao huyết áp…
Để cho việc ăn chay của hàng cư sĩ Phật tử nói riêng và mọi người nói chung trong buổi đầu được như ý thì trước tiên phải hiểu rõ về ý nghĩa và phương pháp ăn chay cũng như lợi ích của việc ăn chay. Đặc biệt là phải hiểu ý nghĩa của việc ăn chay, nếu không hiểu thì việc ăn chay giống như kiểu buôn thần bán thánh, mang tính trao đổi thì không đúng. Khi ăn chay chúng ta phải hiểu ý nghĩa của nó để trưởng dưỡng những đức tính tốt đẹp kể trên; hiểu được như vậy thì người ăn chay có thể tĩnh tâm trong việc ăn chay. Và khi đó dù có người nói ra nói vào thì họ đều quyết tâm theo quyết định của họ mà không bị lung lay. Kế đến là phải biết phương pháp ăn chay, nấu chay để có thể đảm bảo được hàm lượng dinh dưỡng cho cơ thể. Khẩu phần ăn phải đảm bảo sức khỏe. Ăn chay để bảo tồn sức khỏe, để tránh bệnh tật mà ăn chay không khéo đúng cách và hàm lượng dinh dưỡng không đủ thì lại sinh ra bệnh. Cán bộ, công nhân viên chức không có thời gian để ăn thì nên đến những tiệm ăn chay để có thể chọn những thực phẩm hợp với khẩu vị và sức khỏe của mình.
Trong kinh Đức Phật có dạy rằng, phải biết chọn lựa thức ăn và bệnh thì phải từ cữ ăn, ý nói thường có những thực phẩm mình thích ăn nhưng giờ mình bệnh thì phải kiêng cữ, trong thực phẩm chay cũng vậy. Mình phải biết chọn lựa và biết thực phẩm nào vào thời điểm nào là hợp lý. Mặt khác, việc ăn chay cũng có khả năng kích thích tính dục nếu ta ăn uống theo kiểu phóng dật, không chuẩn mực, điều độ. Bởi vì trong thực phẩm chay nhiều loại cũng giàu dinh dưỡng, nên nếu ta ăn dư thừa thì vẫn dẫn đến tình trạng dư thừa năng lượng, dinh dưỡng như chúng ta ăn mặn vậy. Điều đó cũng nói lên ý nghĩa của việc các chư tăng theo luật thì chỉ được ăn cơm, gọi là “thọ trai” không quá giờ Ngọ và không được ăn thức ăn cứng vào chiều hay tối là thế!
Hư Trúc
(Năng lượng Mới số 136, ra thứ Ba ngày 10/7/2012)

Đăng ký lấy RSS cho bình luậnBình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha