Hoa Sen

Hoa Sen
Quốc Hoa

Thứ Sáu, 26 tháng 6, 2015

Sự tích Quán Thế Âm Bồ Tát


image
Hiện nay Quan Thế Âm đã chứng được bực Đẳng Giác Bồ Tát, ở cõi Cực Lạc mà hầu hạ Đức Phật A Di Đà, hằng ngày tiếp dẫn chúng sanh trong mười phương đem về cõi ấy.
 Đức Quan Thế âm Bồ Tát, khi chưa xuất gia tu hành, có một kiếp Ngài làm con đầu lòng của vua Vô Tránh Niệm, tên là Bất Huyến Thái Tử.
Trong thời kỳ vua ấy thống trị thiên hạ, thì có Phật Bảo Tạng ra đời.
Vua thấy nhơn tâm xu hướng theo lời giáo hóa của Phật càng ngày càng đông, bèn suy nghĩ rằng: “Nếu Đạo Phật không phải chơn chánh, thì đâu có lẻ người ta sùng bái khắp xứ như vậy!”
Nên vua mới phát tâm sắm đủ lễ vật đến cúng dường Phật và chúng Tăng trong ba tháng, và lại khuyên các vị vương tử và đại thần cũng làm như vậy.
Khi ấy Bất Huyến Thái Tử vâng lời Phụ Vương, hết lòng tin kính, sắm đủ các món ngon quý và đem những đồ trân trọng của mình mà dưng cúng cho Phật và đại chúng trong ba tháng, không trễ nãi bữa nào và cũng không món gì kém thiếu.
Quan Đại thần Bảo Hải, là phụ thân của Phật Bảo Tạng, thấy vậy khuyên rằng: “Điện hạ đã sẳn lòng tu phước mà cúng Phật cúng Tăng: vậy xin Điện hạ hãy đem công đức đó mà hồi hướng về Đạo Vô Thượng Bồ Đề, chớ nên cầu sự phước báu trên cõi Trời Đao Lợi hay là cõi Trời Phạm Thiên làm chi.
Bởi vì mấy cõi ấy, tuy là cảnh vật vui tốt, nhơn dân vui sướng, căn thân đẹp đẽ, thọ mạng lâu dài, đặng phép thần thông, dạo đi tự tại, những đồ y thực sẵn có, các cuộc du hí đủ bày, trăm thức tự nhiên thọ dụng đủ đều khoái lạc, không có sự khổ như cõi nhơn gian.
Cái phước báu trong các cõi đó tuy là mỹ mãn như thế, nhưng còn thuộc về hữu lậu, có hư có mất, chắc chắn gì đâu, chính là sự vô thường, thật là tướng vô định, như cơn gió thổi mau không có thế lực gì cầm lại đặng: hết vui thì xảy ra buồn, hết sướng thì trở lại khổ, dầu có sống lâu đến mấy ngàn năm đi nữa, cũng không khỏi con ma sanh tử lôi kéo vào đường nọ ngõ kia.
Nếu Điện hạ cứ cầu phước báu đó, chắc không thoát khỏi ải sanh tử luân hồi: nếu đã không khỏi luân hồi, thì chưa chắc lúc nào đặng tiêu diêu tự tại.
Chi bằng Điện hạ đem công đức đó mà cầu món phước báu vô lậu, không hư không mất, đời đời kiếp kiếp vượt ra ngoài ba cõi bốn dòng hưởng sự an  vui vô cùng vô tận, và hồi hướng về Đạo Bồ Đề mà cầu mau thành Phật quả, đặng cứu độ chúng sanh khỏi sông mê biển khổ. Vậy phần tự lợi đã vuông tròn, mà đức lợi tha lại đầy đủ nữa.
Bất Huyến Thái Tử nghe ông Bảo Hải khuyên nói như vậy, bèn đáp rằng: “Ta xem xét cả thảy chúng sanh trong đường địa ngục chịu sự khổ cực: còn kẻ nhơn gian và người thiên thượng thì đủ điều cấu nhiễm, lắm chuyện trần lao, không có chút nào đặng thanh tịnh, bởi đó mà tạo thành tội nghiệp, nên mới thọ quả báo mà đọa vào ba đường dữ là: địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh”.
Bất Huyến Thái Tử đáp lại rồi tự nghĩ rằng: “Bởi chúng sanh ở trong đời không gặp đặng những người hiền nhơn quân tử, khuyên việc lánh dữ làm lành mà dìu dắt lên con đường giải thoát, chỉ gặp những kẻ tàn ác tiểu nhơn cũ dụ nhau kết bạn bè, thường xúi dục những điều bất thiện, và lại phá hư Chánh Pháp, khinh Pháp Đại Thừa, làm cho mất cả căn lành, thêm điều tà kiến, vì vậy mới che lấp tâm tánh, không biết đạo đức là gì, nên phải chịu nổi đày đọa”.
Bất Huyến Thái Tử ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi thưa rằng: “ Nay tôi đối trước mặt Phật và đại chúng mà tỏ lời như vầy: Tôi nguyện đem tất cả các món công đức tôi đã từng cúng dường Tam Bảo và các món công đức tôi đã từng tu tập Pháp mầu mà hồi hướng về đạo Vô Thượng Bồ Đề.
Tôi nguyện trong khi tôi tu những điều công hạnh Bồ Tát, làm những việc lợi ích cho chúng sanh, nếu tôi xem có kẻ mắc sự khốn khổ hiểm nghèo ở trong hoàn cảnh ám muội, không biết cậy nhờ ai, không biết nương dựa đâu, mà có xưng niệm danh hiệu tôi, tức thời tôi dùng phép Thiên nhỉ mà lóng nghe và dùng phép Thiên nhãn mà quan sát coi kẻ mắc nạn ấy ở chỗ nào, cầu khẩn việc gì, đặng tôi hiện đến mà cứu độ cho khỏi khổ và đặng vui . Nếu chẳng đặng như lời thề đó thì tôi không thành Phật.
Thưa Đức Thế Tôn! Nay tôi vì hết thảy chúng sanh mà phát lòng đại nguyện, tu học về Pháp xuất thế, lo làm các công hạnh tự giác tự lợi, nguyện khi phụ vương tôi là Vô Tránh Niệm, trải hằng sa kiếp nhẫn sau thành Phật, hiệu là A Di Đà Như Lai ở cõi An Lạc, Thế giới, hóa độ chúng sanh xong rồi, chừng nhập Niết Bàn, Chánh Pháp truyền lại, thì tôi tu hạnh làm việc Phật sự. Đến lúc Chánh Pháp gần diệt, hễ diệt bửa trước thì bửa sau tôi chứng Đạo Bồ Đề.
Xin Đức Thế Tôn từ bi mà thọ ký cho tôi, và tôi cũng hết lòng yêu cầu các Đức Phật hiện tại ở hằng sa thế giới trong mười phương đều thọ ký cho tôi như vậy nữa?
Đức Bảo Tạng Như Lai nghe mấy lời nguyện ấy, liền thọ ký Bất Huyến Thái Tử rằng: “ Ngươi xem xét chúng sanh trong cõi Thiên Thượng Nhơn gian và trong ba đường dữ đều mắc những sự tội báo, mà sanh lòng đại bi, muốn đoạn trừ mọi sự khổ cực, dứt bỏ những điều phiền não và làm cho cả thảy đều đặng hưởng sự an vui.
Vì người có lòng soi xét những loài yêu cầu của loài hữu tình trong thế gian mà cứu khổ như vậy, nên nay Ta đặt hiệu là: Quan Thế Âm.
Trong khi ngươi tu hạnh Bồ Tát, thì giáo hóa cả vô lượng chúng sanh cho thoát khỏi sự khổ não và làm đủ mọi việc Phật sự.
Sau khi A Di Đà Như Lai nhập Niết Bàn rồi, thì cõi Cực Lạc lại đổi tên là: “Nhứt Thiết Trân Bảo Sở Thành Tựu”, y báo càng tốt đẹp hơn trước đến bội phần.
Chừng đó, đương lúc ban đêm, độ trong giây phút, có hiện ra đủ thức trang nghiêm, thì ngươi sẽ ngồi trên tòa Kim Cang ở dưới cây Bồ Đề mà chứng ngôi Chánh Giác hiệu là: “Biến Xuất Nhất Thiết Quang Minh Công Đức Sang Vương Như Lai”, phước tròn hạnh đủ, muôn sự vẻ vang, đạo Pháp cao siêu, thần thông rộng lớn, rất tôn rất quý, không ai sánh bằng mà lại sống lâu đến chín mươi sáu ức na do tha kiếp, rồi khi diệt độ thì Chánh Pháp còn truyền bá lại đến sáu mươi ba ức kiếp nữa.
Bất Huyến Thái Tử nghe Phật Bảo Tạng thọ ký rồi, liền vui mừng mà thưa rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Nếu sự thề nguyện của tôi quả đặng hoàn mãn như lời Ngài nói đó, thiệt là hân hạnh biết bao! Nay tôi lạy Ngài xin làm thế nào cho các Đức Phật hiện ở hằng sa thế giới cũng đều thọ ký cho tôi và khiến cho cả thảy thế giới đều đồng thời vang ra những tiếng âm nhạc, và các kẻ chúng sanh nghe tiếng ấy đều đặng thân tâm thanh tịnh mà xa lìa mọi sự dục vọng trên đời”.
Lúc Bất Huyến Thái Tử thưa rồi, đương cúi đầu Lễ Phật, tức thì các Thế giới tự nhiên rung động vang rền, kêu ra những tiếng hòa nhã, ai ai nghe đến cũng sanh lòng vui vẻ, là cho các điều dục vọng bổng nhiên tiêu tan cả.
Khi ấy, thoạt nghe các Đức Phật ở mười phương đồng thinh thọ ký cho Quan Thế Âm rằng: “Đương khi thời kiếp Thiện trụ, ở tại cõi Tán Đề Lam thế giới, nhằm lúc Phật Bảo Tạng ra đời  mà giáo hóa chúng sanh, có con của vua Vô Tránh Niệm, tên là Bất Huyến Thái Tử phát tâm cúng dường Phật và Đại chúng trong ba tháng: Do công đức đó, nên trải hằng sa kiếp sẽ thành Phật, hiệu là: Biến Xuất Nhất Thiết Công Đức Quang Minh Sang Vương Như Lai, ở về thế giới Nhứt Thiết Trân Bảo Sở Thành Tựu”.
Bất Huyến Thái Tử khi đặng Chư Phật thọ ký rồi, thì lòng rất vui mừng.
Đến khi mạng chung, thì Ngài thọ sanh ra các đời khác, trải kiếp nọ qua kiếp kia, hằng giữ bổn nguyện, gắng công tu hành, cầu đạo Bồ Đề, làm hạnh Bồ Tát, chăm lòng thi hành những sự lợi ích cho chúng sanh, không có khi nào mà Ngài quên cái niệm  đại bi đại nguyện.
Hiện nay Quan Thế Âm đã chứng được bực Đẳng Giác Bồ Tát, ở cõi Cực Lạc mà hầu hạ Đức Phật A Di Đà, hằng ngày tiếp dẫn chúng sanh trong mười phương đem về cõi ấy.
Đến sau, Đức Phật A Di Đà nhập Niết Bàn rồi, thì Ngài kế ngôi Phật vị mà giáo hóa chúng sanh.

Trích "Sự tích Phật A Di Đà và bảy vị Bồ tát" - Phật học tạp chí Từ Bi Âm (200-204)

Đăng ký lấy RSS cho bình luậnBình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

Năng Lực Vô Biên Của Vị Tha


image
Khi chúng ta quan tâm đến năng lực rộng lớn của giác ngộ và khối lượng thực hành khổng lồ tương ứng cần thiết để đạt đến, chúng ta có thể trở nên thối chí và chùn bước với nhiệm vụ.
Có bất cứ một đạo đức nào đồng đẳng với khuynh hướng vị tha này không?
Có bất cứ một thân hữu nào như vậy chứ?

- TỊCH THIÊN, Hướng Dẫn Lối Sống của Bồ Tát.



Giống như năm yếu tố của môi trường vật chất - không, đất, nước, lửa, và gió - là vô giới hạn, vì thế chúng sinh mà con người vị tha tìm cầu để hướng dẫn ra khỏi khổ đau tới thể trạng giác ngộ là vô giới hạn trong con số.  Sức mạnh trái tim của Bồ tát là như thế, các ngài cam kết với nhiệm vụ này trong việc hổ trợ tất cả chúng sinh - mà không có bất cứ giới hạn nào của thân hay thù, quốc gia hay chủng tộc - từ mỗi một loại khổ đau.  Các ngài muốn đưa chúng sinh vào trong thể trạng giác ngộ, được ban cho tất cả những phẩm chất thuận lợi tiềm tàng.  Để trở nên có thể cứu giúp trong một mức độ rộng rãi như vậy, các ngài tự nguyện từ trong chiều sâu trái tim của các ngài - rèn luyện trong vô số kỷ năng để tiến bộ đối với sự hoàn thiện của chính các ngài bất chấp chúng lâu dài như thế nào đi nữa, trải qua hàng vô số, a tăng kỳ kiếp sống, với nổ lực như áo giáp vô hình, ngăn ngừa sự thiếu nhẫn nại và thối chí.  Vì nhận thức của các ngài là quá rộng lớn, các ngài tích lũy nghiệp lực tích cực xứng đáng ngay cả khi các ngài đang ngủ năng lực cũng vô giới hạn cống hiến đến vô số chúng sinh .

Khi chúng ta quan tâm đến năng lực rộng lớn của giác ngộ và khối lượng thực hành khổng lồ tương ứng cần thiết để đạt đến, chúng ta có thể trở nên thối chí và chùn bước với nhiệm vụ.  Tuy nhiên, vì chúng sinh, những người tiếp nhận lòng từ ái và bi mẫn của chúng ta là vô hạn trong con số, năng lực lợi ích tích lũy bởi tâm vị tha của chúng ta cũng là vô giới hạn.  Trong cách này, những phẩm chất vô biên của giác ngộ, là những thứ có thể dường như khó khăn để gặt hái được qua tính chất bao la của chúng, có thể được thấy như có thể đạt được.  Việc phản chiếu cách này, chúng ta thấy rằng sự chuyển hóa thành giác ngộ là thực tế khả dĩ, do thế ngăn ngừa bất cứ khả năng nào của việc lười biếng và chần chừ.

Như Long Thọ nói trong Tràng Hoa Quý Báu rằng:

Qua tâm từ ái và bi mẫn của các ngài
Lòng vị tha quyết định để hướng dẫn
Vô lượng chúng sinh khỏi khổ đau
Và đưa họ vào trong Quả Phật.

Vì thế ngay cả khi đang ngủ
Sau khi thừa nhận một sự quyết tâm hoàn hảo như vậy
Những ai duy trì sự kiên định -
Mặc dù họ có thể không quá kỷ càng -

Luôn luôn tích lũy công đức tối thiểu như tất cả chúng sinh
Vì chúng sinh là vô lượng
Rồi thì hãy biết rằng bởi vì nguyên nhân là vô hạn
Nên Quả Phật vô biên thì không khó để đạt đến.

Sự lưu trú của lòng vị tha cho một thời gian vô hạn trong thế giới:
Vì vô lượng chúng sinh mà họ tìm cầu
Vô số phẩm chất của giác ngộ
Và tiến hành vô biên hành vi đạo đức.

Vì vậy mặc dù giác ngộ là vô lượng
Làm thế nào họ không thể đạt đến được
Với bốn nhân tố vô biên này
mà không phải cần thời gian quá dài!

Bằng việc hướng đến phạm vi hành đông của chúng ta không phải chỉ cho chính chúng ta hay một vài người thân cận mà ở mỗi một chúng sinh khắp hư không, hiệu quả chuyển hóa từ những hành vi tích cực của chúng ta được tăng lên gấp bội bởi vô lượng chúng sinh, là cánh đồng cho sự gieo trồng của chúng ta.  Trong cách này, lòng từ ái trở thành thành phần và nguyên nhân không thể tách rời của sự giác ngộ toàn vẹn.  Mặc dù vào lúc đầu chúng ta có thể đặt nghi vấn cho khả năng của Phật Quả, nhưng sự chuyển hóa tâm linh hoàn toàn trở nên thực tiển khi chúng ta lưu tâm đến hiệu quả của từ ái, bi mẫn và mục tiêu vị tha để trở nên giác ngộ.  Tất cả sẽ hổ trợ chúng ta trên hành trình tâm linh, và chúng ta sẽ ngạc nhiên vào năng lực của từ ái, bi mẫn và vị tha.


NGUYỆN ƯỚC HỔ TRỢ

Những nguyện ước chân thành cho sự phát triển tâm linh tương lai của chính mình và cho tiến trình của người khác tự nó là một hình thức của thiền tập.  Long Thọ nổi tiếng ở Ấn Độ và khắp Á châu vì đã xác định những nhận thức phóng đại của bản chất con người và sự vật và cho sự trình bày của ngài về mối quan hệ nhân quả, đã trước tác một hệ thống thệ nguyện diệu kỳ cho chính chúng ta và sự thành công của người khác trong những dạng thức của sức khỏe con người, phương pháp và những phẩm chất tâm linh.  Ở đây chúng là:

Qua công đức của những hành vi đạo đức
Mà tôi đã làm và sẽ làm
Nguyện cho tất cả chúng sinh ngưởng mộ
Đến quả giác ngộ tối thượng

Nguyện cho tất cả chúng sinh có những khả năng thuần khiết,
Thoát khỏi tất cả những điều kiện chướng ngại
Tự tại trong hành động và tài năng
Với sinh kế thánh thiện

Cũng nguyện tất cả chúng sinh
Có châu báu trong tay họ
Và nguyện cho tất cả những thứ cần dùng vô hạn của đời sống duy trì
không tiêu thụ hết cho đến khi vẫn còn vòng sinh tử.

Nguyện cho tất cả mọi người vào mọi thời
Được sinh ra trong những cung cách thuận lợi
Nguyện cho tất cả chúng sinh có
Sự thông minh của tuệ trí và đôi chân của đạo đức.

Nguyện cho tất cả chúng sinh có một cục diện vui vẻ
Thân thể tốt đẹp, rực rở thênh thang,
Một hiện tướng toại ý, thoát khỏi bệnh tật,
Mạnh khỏe, và sống lâu.

Nguyện cho tất cả giỏi giang trong phương tiện phân biệt khổ đau
Và có sự giải thoát khỏi tất cả đớn đau,
Thiên hướng đến sự thực tập tâm linh
Và sự phong phú vô cùng trong giáo huấn tâm linh.

Nguyện cho họ được trang hoàng với từ ái, bi mẫn, hoan hỉ,
Tâm ý tĩnh lặng trống rỗng những cảm xúc phiền não
Bố thí, đạo đức, nhẫn nhục, nổ lực,
Tập trung, và tuệ trí.

Hoàn thành hai sự tích tập về phúc đức và tuệ trí
Nguyện cho họ hiện tướng có những dấu  hiệu rực sáng và những biểu hiện xinh đẹp.
Nguyện cho họ vượt qua không bị trở ngại
Toàn bộ phạm vi của sự phát triển tâm linh

Tôi cũng nguyện được tô điểm hoàn toàn
Với những thứ và tất cả những phẩm chất thánh thiện khác.
Được tự do khỏi tất cả những khuyết điểm
Và có lòng từ ái siêu việt cho tất cả chúng sinh

Nguyện cho tôi hoàn thiện tất cả những đạo đức
Vì là những thứ mà tất cả chúng sinh hy vọng
Và nguyện cho tôi luôn luôn làm vơi nhẹ
Những khổ đau của tất cả những chúng sinh hiện thân

Nguyện cho tất cả những chúng sinh ấy trong tất cả thế giới
Những ai sầu khổ qua sợ hãi
Trở nên hoàn toàn vô úy
Mặc dù chỉ nghe tên tôi

Qua thấy hay nghĩ về tôi hay chỉ nghe tên tôi
Nguyện cho chúng sinh đạt được niềm vui lớn
Tự nhiên thoát  khỏi mọi lỗi lầm,
Xác định rõ ràng đối với sự giác ngộ hoàn toàn.

 Nguyện cho năm  loại thần thông
tương tục suốt khắp trong những kiếp sống
Nguyện cho tôi luôn luôn ở trong tất cả những phương cách mang
Sự giúp đở và hạnh phúc đến tất cả chúng sinh

Nguyện cho tôi luôn luôn không bị tổn hại
Đồng thời dừng lại
Những mong ước tạo tác các hành vị tệ hại
Của tất cả chúng sinh trong tất cả các thế giới.

Nguyện cho tôi luôn luôn là một đối tượng của hoan hỉ
Cho tất cả chúng sinh phù hợp với nguyện ước của họ
Và không bị trở ngại, như đất,
Nước, lửa, gió, thảo mộc, và rừng hoang sơ.

Nguyện cho tôi thân thiết với chúng sinh như đời sống của chính họ
Và nguyện thân thiết còn hơn thế đối với tôi.
Nguyện cho những hành vi tệ hại của họ trổ quả với tôi
Và tất cả những đạo đức của tôi trổ quả trong họ.

Cho đến khi còn bất cứ một chúng sinh nào
Bất cứ nơi nào chưa được giải thoát,
Nguyện tôi tiếp tục hiện hữu trong thế giới vì lợi ích của chúng sinh ấy
Mặc dù tôi đã đạt đến giác ngộ tối thượng.

Sau đó Long Thọ nói về giá trị của việc tiếp nhận những nguyện ước này vào trong tim:

Nếu công đức nói về điều này
Có hình sắc, nó sẽ không bao giờ chứa vừa
Trong những cõi của những thế giới
Nhiều như số cát trong sông Hằng

Đấng giác ngộ đã nói như thế,
Và lý do là điều này:
Công đức vô biên của nguyện ước
Cứu giúp vô lượng thế giới của chúng sinh
Thì giống như sự vô hạn của những chúng sinh ấy.

Bằng việc tiếp nhận những nguyện ước này từ trái tim, chúng ta cống hiến mục tiêu sâu xa nhất cho sự cát tường của người khác, do thế việc tích tập những năng lực tích cực rộng lớn như số lượng của chúng sinh bao hàm lãnh vực vị tha của chúng ta.



Nguyên tác: The Enormous of Altruism
Ẩn Tâm Lộ ngày 19-3-2012
Bài liên hệ:
1- Quan điểm của tôi
2- Những giai tầng phát triển
3- Tịnh hóa tâm thức
4- Nghĩ về thân và thù: Bước nền tảng
5- Nhận ra thân hữu: Bước thứ nhất
6- Đánh giá đúng sự cân cần: Bước thứ hai
7-Thói quen ân cần: Bước thứ ba
8- Học tập để từ ái: Bước thứ tư
9- Khác biệt giữa từ ái và luyến ái
10- Từ ái: Căn bản của nhân quyền
11- Mở rộng chu vi của Từ ái
12- Năng lực của bi mẫn: Bước thứ năm
13- Chí nguyện cố gắng toàn lực: Bước thứ sáu
14- Tìm cầu sự giác ngộ vị tha: Bước thứ bảy
15- Năng lực vô biên của vị tha
16- Hành động với từ ái
17- Tác giả và dịch giả

Đăng ký lấy RSS cho bình luậnBình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

Bồ Tát Quán Thế Âm (觀世音菩薩)


image
Nhân ngày Khánh Đản Bồ Tát Quán Thế Âm 19.2.Ất Mùi (2015), mỗi người con Phật chúng ta hãy dâng nén tâm hương hướng về Ngài, cầu nguyện Đức Đại từ, Đại bi, Cứu khổ, Cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát cứu vớt mọi sinh linh đang sống trong biển khổ, sông mê mau mau tỉnh ngộ hướng về bờ giác.
Quán Thế Âm nghĩa là "Đấng quán chiếu âm thanh của thế gian" là vị Bồ tát hiện thân lòng từ bi của tất cả chư Phật. Được miêu tả trong nhiều nền văn hóa khác nhau, cả thân nam lẫn nữ giới, Quán Thế Âm là một trong những vị Bồ tát được tôn kính thờ phụng rộng rãi nhất trong Phật giáo Đại thừa.
Tên nguyên bản tiếng Phạn của vị Bồ tát Quán Thế Âm là Avalokiteśvara. Tên tiếng Hán Quán Thế Âm Bồ Tát (觀世音菩薩) được phiên dịch từ tiếng Phạn: "Avalokiteśvara Bodhisattva". Bồ tát Quán THế Âm thường được mô tả dưới nhiều dạng thân nam hay nữ, và cũng có thể được biết đến với tên gọi đơn giản là Quan Âm.                                                                  
Quán Thế Âm (觀世音), cũng gọi là Quán Tự Tại, Quan Âm, là một trong những vị Bồ Tát có hạnh nguyện cứu khổ, cứu nạn cho mọi chúng sinh . Có nhiều luận giải khác nhau về nguyên nghĩa tên Ngài. Có người hiểu “īśvara” là một “người nam” quán chiếu thế giới, có người hiểu “svara” là “Âm”, tức là vị Bồ Tát lắng nghe mọi tiếng thế gian.Bồ Tát Quán Thế Âm là thể hiện lòng Bi, một trong hai dạng của Phật tính. Vì vậy, mọi người gọi Bồ Tát là bậc Đại Bi. Dạng kia của Phật tính là Trí huệ, là đặc tính được Bồ Tát Văn-Thù-Sư-Lợi thể hiện. Quán Thế Âm là vị Bồ Tát thể hiện nguyện lực của Phật A-Di-Đà và được xem như quyến thuộc của Phật A-Di-Đà (Tịnh độ tông). Với lòng từ bi vô lượng, Quán Thế Âm thể hiện sức mạnh huyền diệu cứu giúp mọi chúng sinh quán tưởng đến mình lúc gặp hiểm nguy. Trong nhân gian, Quán Thế Âm là vị bảo hộ tránh khỏi tai hoạ và giúp người phụ nữ không con cầu tự.
Trong các loại tranh tượng về Quán Thế Âm, chúng ta thấy có 33 dạng, khác nhau về số đầu, tay và các đặc tính. Thông thường tượng Bồ Tát có ngàn tay ngàn mắt, có khi 11 đầu. Trên đầu có tượng A-Di-Đà, xem như đặc điểm chính. Trên tay có khi thấy Bồ Tát cầm hoa sen hồng, vì vậy nên Quán Thế Âm cũng có tên là Liên Hoa Thủ (người cầm hoa sen) hay nhành dương liễu và một bình nước Cam-lộ. Số tay của Bồ Tát biểu hiện khả năng cứu độ chúng sinh trong mọi tình huống.
Trong tranh tượng với 11 đầu thì Quán Thế Âm mang 9 đầu của chín vị Bồ Tát, một đầu của một vị Phật và cuối cùng là đầu của Phật A-Di-Đà. Cứ mỗi ba đầu tượng trưng là ba đặc tính: từ bi với chúng sinh khổ nạn, quyết tâm đối trị cái xấu, hoan hỉ với cái tốt. Theo một cách nhìn khác thì 11 đầu biểu tượng cho mười cấp của Thập địa và Phật quả.
Đôi lúc Quán Thế Âm Bồ Tát cũng được trình bày dưới một dạng ít thấy, đó là “Sư Tử Hống Quán Tự Tại” (獅子吼觀自在). Dưới dạng này, Bồ Tát là một Dược sư, đặc biệt cứu độ những người bệnh phong cùi. Mắt Bồ Tát đang nhìn bệnh nhân và mắt chính giữa (huệ nhãn) đang tập trung chẩn bệnh. Hai bảo vật bên vai cũng là những dụng cụ của một dược sĩ, bình sắc thuốc bên trái của Bồ Tát và đao trừ tà (bệnh) bên phải. Sư tử Bồ Tát cưỡi xuất phát từ một sự tích. Tương truyền rằng, có một con sư tử sinh được một con nhưng con chết ngay sau khi sinh. Đau đớn quá nó rống lên thật to và nhờ tiếng rống uy dũng này, nó làm cho con nó sống lại. Vì thế mà có sự liên hệ giữa tên của Sư Tử Hống Quán Tự Tại (“giọng sư tử”) với nghề nghiệp của một dược sĩ “gọi người sống lại”.
Một thuyết khác giải thích tích của 11 đầu và nghìn tay: lúc Quán Thế Âm quán chiếu cảnh khổ của chúng sinh thì đầu Bồ Tát đau xót vỡ ra từng mảnh. Phật A-di-đà xếp các mảnh đó lại thành 11 đầu. Xuất phát từ nguyện lực cứu độ mọi chúng sinh, thân Bồ Tát mọc ra nghìn tay, trong mỗi tay có một mắt. Quán Thế Âm cũng hay được vẽ là một vị Bồ Tát cứu độ chúng sinh trong sáu nẻo Luân hồi (Lục đạo): trong súc sinh, Quán Thế Âm đầu ngựa, hoặc cưỡi sư tử; trong địa ngục, người có nghìn cánh tay; trong cõi A-tu-la, người có 11 đầu.
Tại Việt Nam, Quán Thế Âm còn gọi là Quan Âm, hay được trình bày dưới dạng “Phật Bà”. Tại Tây Tạng, Quán Thế Âm  là “người bảo vệ xứ tuyết” và có ảnh hưởng trung tâm trong truyền thống Phật giáo tại đây. Người ta xem Bồ Tát là cha đẻ của dân tộc Tây Tạng và nhờ Ngài mà Phật giáo được truyền bá qua nhà vua Tùng-tán Cương-bố, được xem là một hiện thân của Quán Thế Âm. Đạt-lại Lạt-ma và Cát-mã-ba cũng được xem là hiện thân của Quán Thế Âm. Câu Man-tra OM MA-NI PAD-ME HUM được xem là thuộc tính của Quán Thế Âm, là thần chú đầu tiên truyền đến Tây Tạng và ngày nay được tụng đọc nhiều nhất. Tranh tượng của Bồ Tát được biểu diễn bằng một người có 11 đầu và ngàn cánh tay hoặc trong dạng có bốn tay, ngồi toà sen.
Trong Diệu pháp liên hoa kinh, đức Phật Thích Ca đã giải thích rõ cho Vô Tận Ý Bồ Tát về ý nghĩa của danh hiệu Quán Thế Âm là do vị Bồ tát này khi nghe âm thanh của chúng sinh xưng danh hiệu mình thì bèn tầm thanh để cứu khổ. Nếu có vô lượng trăm ngàn vạn ức chúng sanh bị các khổ não nghe đến danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, một lòng xưng danh Ngài thì ngay khi đó, Bồ Tát Quán Thế Âm bèn xem xét âm thanh ấy, khiến cho họ đều được giải thoát. Cũng theo kinh Diệu pháp liên hoa thì Quán Thế Âm Bồ tát có 32 hóa thân khác là thân Phật, Bích Chi, Thinh Văn, Phạm Vương, Đế Thích, Đại Tự Tại Thiên, Đại Tự Tại, Thiên Đại Tướng Quân, Tỳ Sa Môn, Tiểu Vương, Trưởng giả, Cư sĩ, Tể quan, Bà-la–môn, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, Phụ nữ, Đồng nam, Đồng nữ, Thiên, Long, Dạ xoa, Càn-thát-bà, Ca-lâu-la, A-tu-la, Khẩn-na-la Ma-hầu-la-già, Nhân, Phi nhân Thần chấp Kim Cang.
Sau này lại có thêm 33 hóa thân khác của Quán Thế Âm, những hóa thân này không dựa vào Kinh sách mà chỉ dựa vào tư tưởng hóa độ lục đạo kết hợp với 33 Ứng hóa thân trên pha trộn với tín ngưỡng dân gian của Nhật Bản và Trung Hoa mà tạo thành, đó là các hồng danh: Dương Liễu Quán Âm, Long Đầu Quán Âm, Trì Kinh Quán Âm, Viên Quang Quán Âm, Du Hý Quán Âm, Bạch Y Quán Âm, Liên Ngọa Quán Âm, Lang Kiến Quán Âm, Thí Dược Quán Âm, Ngư Lam Quán Âm, Đức Vương Quán Âm, Thủy Nguyệt Quán Âm, Nhất Diệp Quán Âm, Thanh Cảnh Quán Âm, Uy Đức Quán Âm, Diên Mạng Quán Âm, Chúng Bảo Quán Âm, Nham Hộ Quán Âm, Năng Tĩnh Quán Âm, A Nậu Quán Âm, Vô Úy Quán Âm, Diệp Y Quán Âm, Lưu Ly Quán Âm, Đa La Quán Âm, Cáp Lỵ Quán Âm, Lục Thời Quán Âm, Phổ Bi Quán Âm, Mã Lang Phụ Quán Âm, Hiệp Chưởng Quán Âm, Nhất Như Quán Âm, Bất Nhị Quán Âm, Trì Liên Quán Âm, Sái Thủy Quán Âm.
Nhân ngày Khánh Đản Bồ Tát Quán Thế Âm 19.2.Ất Mùi (2015), mỗi người con Phật chúng ta hãy dâng nén tâm hương hướng về Ngài, cầu nguyện Đức Đại từ, Đại bi, Cứu khổ, Cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát cứu vớt mọi sinh linh đang sống trong biển khổ, sông mê mau mau tỉnh ngộ  hướng về bờ giác.
Đệ tử Trí Bửu - Kính mừng Khánh đản Bồ-tát Quán Thế Âm 19/2/Ất Mùi(2015)

Đăng ký lấy RSS cho bình luậnBình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

Thiền và tình cảm


image
Người ta đều có thất tình lục dục, ngay cả nhà Phật “tứ đại giai không” cũng không phủ nhận được. Dưới ngòi bút của các nhà thơ những tình cảm vui sướng, ưu sầu, đau thương, oán hận, hối hận, phẫn nộ, sợ hãi v.v…đều có sự bộc lộ đầy đủ.
Nói đến vui sướng, Vương Duy đời Đường nói: “Hoa đón niềm vui đều biết cười. Mạnh Giao đời Đường nói: “Gió xuân đắc ý ngựa phóng nhanh” thật là vui tươi thanh thản, tự nhiên biết bao. Nói về ưu sầu, Lý Bạch đời Đường nói: “Sầu như nước sông dài vạn dặm”. Tân Khí Tật đời Tống nói: “Mong lên cao lâu để tránh sầu”. Thật là nỗi sầu liên miên, sao tránh cho được. Kể đến đau thương, Cao Minh đời Nguyên nói: “Như nuốc kim chỉ, đâm ruột nhói lòng”. Tào Tuyết Cần đời Thanh nói: “Người thất ý gặp việc thất ý, vết thương mới đắp vết thương cũ”. Thật là đau đớn khó chịu, qua ngày tày năm. Kể đến oán hận, Bạch Cư Dị đời Đường nói: “Hồng nhan chưa già ân đã đứt”. Lý Dục đời Nam Đường nói: “Hận đời dài như nước dài”, thật là sầu hận thâm trầm có ai biết được? Những câu thơ mang sắc thái tình cảm phong phú này, thật ra đều là sự phản ánh tâm lý của con người trong hoàn cảnh đặc biệt. Nếu chìm đắm trong mối tình cảm nào mà không thể tự thoát, thì có thể tự khiến mình càng rơi càng sâu. Quá vui, sẽ đắc ý vênh váo; quá ưu sầu sẽ “trẻ đã bạc tóc”, quá đau lòng sẽ hại sức khoẻ. Vả lại, tình cảm cũng có thể chuyển biến, không nghe nói “vui quá hoá buồn” sao? Ý nghĩa sâu sắc của thiền chính là nói với người ta một cách không lộ dấu vết rằng: “ảo ảnh mơ mộng, biết quá khứ không gốc, đất nước, gió, lữa, ngộ vốn là không có”, theo cách nói của thiền: “Hỷ, nộ, ai, lạc” đều do vọng tưởng điên đảo mà sanh, thấu hiểu điều này thì có thể yên tâm không còn phiền não.
Trên thế giới này, sự sung sướng không phải ai ai cũng có. Trái lại phiền não thì mỗi người đều có. Như phiền não của người nghèo là lo ăn lo mặc; phiền não của nhà giàu là sợ tài sản bị cướp, là suy nghĩ di sản phải phân chia như thế nào mới không để thân nhân trở mặt. Phiền não của người độc thân là tìm không được người bạn đời; phiền não sau khi kết hôn là có sự ràng buộc của gia đình…Phiền não phần nhiều là tình cảm chủ quan, có lúc là tự mình kết lấy phiền não. Trong “Đại Trí Huệ Của Phật Giáo Trung Quốc” có một mẫu chuyện tràn đầy lý thiền như sau:
Ngày xưa, có một bà lão bất kể trời nắng cũng khóc, trời mưa cũng khóc, một năm có 365 ngày, hầu hết mỗi ngày đều sống trong sự khóc lóc, người ta gọi bà là: “Bà khóc”. Một hôm có vị Cao tăng hỏi bà:
_Bà cả, tại sao bà khóc mỗi ngày không ngừng?
_Bạch thầy! Tôi sinh được hai đứa con gái, đứa lớn gả cho người bán giày, đứa nhỏ gả cho người bán dù.
Vị Cao tăng hỏi:
_Đó không phải là rất tốt sao?
_Thầy mà còn nói tốt! Tôi thật rầu muốn chết. Trời nắng dù của con gái nhỏ bán không được! Trời mưa ai mua giày của con gái lớn?
_Bà cả, chớ rầu nữa! Bà hãy nghĩ như vầy: Khi trời nắng, tiệm giày của con gái lớn sẽ bán đắt; còn lúc trời mưa, dù của con gái nhỏ cũng bán chạy. Đó không phải rất tốt sao?
_À…thì ra là vậy! Tại sao tôi không nghĩ ra?
Bà lão được vị Cao tăng chỉ dạy, liền cảm thấy sung sướng, mặt mày vui tươi. Từ đó, bà không còn buồn rầu khóc lóc nữa. Ngày trời nắng, bà lão cũng cười, lúc trời mưa bà lão cũng cười. Vẻ buồn trên mặt bà đã mất hẳn. Như vậy, cùng một việc, bạn nhìn từ một góc độ khác nhau, bạn dùng cách tư duy khác nhau để nghiên cưu, thì sẽ có kết luận khác nhau. Bà lão đó trời nắng cũng khóc, trời mưa cũng khóc là tự mình chuốc lấy phiền não. Vị Cao tăng không có thay đổi hiện trạng, chỉ là đã điều chỉnh góc độ nhìn vấn đề của bà, khiến bà từ khóc trở thành cười, từ buồn trở thành vui. Chỗ kỳ diệu của thiền là tận sức thể nghiệm, thể nghiệm đời sống là tốt đẹp, đời sống là muôn màu, tương lai là sáng sủa, hãy đừng để cho phiền não vướng mắc.
Đương nhiên cuộc sống khó tránh được vướng mắc của phiền não, vấn đề là làm thế nào thoát khỏi từ sự vướng mắc đó. Vả lại, phiền não cũng là một quá trình để rèn luyện con người. Phật Giáo cho rằng: “Phiền não tức Bồ đề”, đó là nói: phiền não là con đường tất yếu để đi đến trí huệ giác ngộ. Mỗi người chúng ta một hôm rơi vào phiền não sẽ cảm thấy phiền não bất an, và từ phiền não đi ra thì đã tỏ ra thâm trầm chính chắn.
(Trích trong phẩm: “Thiền và nhân sanh” trong tác phẩm cùng tên của tác giả La Vĩ Quốc)

Đăng ký lấy RSS cho bình luậnBình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

Vượt Thoát Sợ Hãi


image
Ở đây, chúng ta thấy được rằng, có bốn sự sợ hãi mà chúng ta phải luôn đối diện trong đời sống này. Để hiểu rỏ hơn từng chi phần trên, chúng ta cùng nhau bàn luận nội dung của kinh văn.
Có bao giờ chúng ta tự hỏi rằng, tại sao chúng ta có cảm giác bất an? Tại sao chúng ta không sống được tự tại thong dong giữa cuộc đời này? Vì sao chúng ta không làm chủ được đời sống của chính mình? Làm thế nào để vượt thoát khổ đau, trên con đường tìm về hạnh phúc? Lời giảng dạy của Bậc Giác Ngộ cách đây hơn 2600 năm, là câu giải đáp chân thật nhất mà con người cần thấu hiểu.
Từ suối nguồn uyên nguyên của Diệu Pháp, kinh “ Tăng Nhất A Hàm” [i] đã ghi lại sự giảng dạy của Bậc Thầy giác ngộ với các vị đệ tử dễ thương của mình như sau:
“ Này các Thầy tỳ kheo, có bốn sự sợ hãi này, thế nào là bốn? sợ hãi tự trách mình, sợ hãi người khác trách, sợ hãi hình phạt, sợ hãi ác thú”
Ở đây, chúng ta thấy được rằng, có bốn sự sợ hãi mà chúng ta phải luôn đối diện trong đời sống này. Để hiểu rỏ hơn từng chi phần trên, chúng ta cùng nhau bàn luận nội dung của kinh văn.

Thứ nhất, sợ hãi tự trách mình
Này các Tỷ-kheo, có hạng người suy xét : "Nếu thân ta làm ác, lời nói ta ác, ý nghĩa ta ác, thời tự ngã có thể trách ta về phương diện giới : "Sao lại làm nghiệp ấy ?". Người ấy do sợ hãi tự trách, đoạn tận thân làm ác, tu tập thân làm lành, đoạn tận lời nói ác, tu tập lời nói lành, đoạn tận ý nghĩ ác, tu tập ý nghĩ lành; sống tự ngã trong sạch.

Thứ hai, sợ hãi người khác trách
Này các Tỷ-kheo, có hạng người suy xét : "Nếu thân ta làm ác, lời nói ta ác, ý nghĩ ta ác, thời người khác có thể trách ta về phương diện giới : "Sao lại làm nghiệp ấy ?". Người ấy do sợ hãi người khác trách, đoạn tận thân làm ác, tu tập thân làm lành, đoạn tận lời nói ác, tu tập lời nói lành, đoạn tận ý nghĩ ác, tu tập ý nghĩ lành; sống tự ngã trong sạch.

Thứ ba, sợ hãi hình phạt
Này các Tỷ-kheo, có người thấy vua chúa khi bắt được người ăn trộm, kẻ đi cướp đường, liền áp dụng nhiều hình phạt sai khác. Họ đánh bằng roi, họ đánh bằng gậy, họ đánh bằng côn, họ chặt tay, họ chặt chân, họ chặt tay chân, họ xẻo tai, họ cắt mũi, họ dùng hình phạt vạc dầu, họ dùng hình phạt xẻo đỉnh đầu thành hình con sò, họ dùng hình phạt lấy xương và thịt cho rộng ra, rồi đổ dầu sôi vào miệng, lấy lửa đốt thành vòng hoa, đốt tay, lấy rơm bện lại rồi siết chặt, lấy vỏ cây làm áo, hình phạt con dê núi, lấy câu móc vào thịt, quẳng sắt chảy trên thân đầy vết thương rồi chà mạnh, bắt nằm dưới đất, đâm một gậy sắt qua hai lỗ tai rồi xoay tròn, lột da phần trên, lấy chày giã cho nát thân. Họ tưới bằng dầu sôi, họ cho chó ăn, họ đóng cọc những người sống, họ lấy gương chặt đầu. Người ấy suy nghĩ như sau : "Do nhân làm các nghiệp ác như vậy, các vua chúa khi bắt được người ăn trộm, kẻ đi cướp đường, liền áp dụng nhiều hình phạt sai khác … họ lấy gươm chặt đầu". Người ấy vì sợ hãi sự sợ hãi hình phạt, không có đi ăn trộm, cướp tài sản người khác.

Thứ tư, sợ hãi ác thú
Này các Tỷ-kheo, có hạng người suy nghĩ như sau : Với ai thân làm ác, có ác dị thục trong tương lai, với ai lời nói ác … với ai ý nghĩ ác, có ác dị thục trong tương lai. Làm thế nào cho ta sau khi thân hoại mạng chung, không có sanh tại cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục ?. Người ấy vì sợ hãi ác thú, đoạn tận thân làm ác, tu tập thân làm lành; đoạn tận lời nói ác, tu tập lời nói lành; đoạn tận ý nghĩ ác, tu tập ý nghĩ lành; sống với tự ngã trong sạch.
Từ giải thích của kinh văn, chúng ta không khó để nhận ra rằng, Sở dĩ, con người luôn sống trong sợ hãi từ hiện tại cho đến vị lai, là do chính mình gây tạo nên bằng những hành động, lời nói và ý nghĩ bất thiện, những bất thiện pháp này là cửa ngõ dẫn chúng ta đi vào thế giới bất an, là căn nguyên sâu xa khiến cho tâm chúng ta luôn sống trong lo lắng và sợ hãi.
Cũng từ lời dạy của Đức Phật, chúng ta phải luôn suy tư chiêm nghiệm rằng, đời sống hạnh phúc hay không hạnh phúc, sống an lành hay bất ổn đều chính mình gây nên, mình là chủ nhân ông cho chính mình. Chính vì thế, chúng ta phải luôn hướng về đời sống thánh thiện bằng chất liệu của giới, bởi giới chính là giềng mối hướng dẫn chúng ta đi về con đường thánh đạo. Phải luôn thai ngắn và nuôi lớn thiện nghiệp, tu tập đoạn trừ ác nghiệp, thì hoa trái của hạnh phúc sẽ luôn được đơm hoa kết trái và luôn đồng hành trong cuộc đời này .


[i] HT Thích Minh Châu dịch “ Kinh Tăng Chi Bộ” tập II, Phẩm sợ hãi, 121 Tự trách, p.46-48. Nhà Xuất Bản Tôn Giáo, năm 2003.

Đăng ký lấy RSS cho bình luậnBình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

Tâm Là Thế Nào?


image
Toàn tri toàn giác không thể được phát sinh mà không có nguyên nhân, bởi vì đâu phải mọi thứ luôn luôn là tòan tri toàn giác đâu. Nếu mọi thứ được sinh ra mà không liên hệ đến điều gì khác, chúng có thể tồn tại mà không có sự câu thúc - sẽ không có lý do tại sao mọi thứ không thể là toàn tri toàn giác. Do vậy, vì mọi thứ có ích sinh khởi từng thời kỳ mà thôi, chúng lệ thuộc một cách chặc chẽ trên nguyên nhân của chúng. Toàn tri toàn giác rất hiếm hoi bởi vì nó không xãy ra khắp mọi lúc và ở mọi nơi, và mọi thứ không thể trở thành toàn tri toàn giác. Thế nên, nó chắc chắn tùy thuộc trên những nguyên nhân và điều kiện.
Theo luận điển này, có hai loại hiện tượng tồn tại:  những thứ tồn tại một cách thường trụ và những thứ tồn tại thỉnh thoảng mà không tồn tại những lúc khác.  Điều gì hàm ý trên loại thứ hai - tồn tại vào những lúc nào đấy và không tồn tại vào những lúc khác?  Một câu hỏi như vậy sinh khởi một cách tự nhiên.  Điều này ngụ ý rằng các thứ tạm bợ lệ thuộc trên những nguyên nhân.  Sự thực rằng các thứ nào đấy được phát sinh vào những lúc nào đó minh chứng sự tồn tại của các nguyên nhân.  Nói rằng những thứ nào đấy được phát sinh vào những lúc nào đấy nhưng không vào những lúc khác biểu thị rằng chúng không được sản sinh một cách độc lập, mà đúng hơn là chúng lệ thuộc trên những điều kiện khác.  Do vậy, tất cả mọi hiện tượng đó được sản sinh vào những lúc nào đó nhưng không vào những lúc khác lệ thuộc trên những nguyên nhân và điều kiện, và chúng là những loại đa dạng.  Những loại nguyên nhân khác nhau, như nguyên nhân thực thể, nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân gián tiếp, nguyên nhân của tình trạng tương đồng, nguyên nhân đồng thời, v.v... Tương tự thế, có nhiều loại điều kiện, như điều kiện khách quan, điều kiện nhân duyên, điều kiện tức thời, v.v...  Do thế, những hiện tượng này tùy thuộc trên những nguyên nhân và điều kiện thay đổi do bản chất; chúng không bất động ở một chỗ và chúng không thường trụ.

Những hiện tượng duyên sinh lần lượt có thể chia làm ba đặc trưng - sắc, thức, và không thuộc hai thứ ấy.  Sắc bao hàm những  khía cạnh như hình thể, màu sắc, v.v..., những thứ có thể được thấy bằng mắt và xúc chạm bằng tay. Thức không thuộc hình thể, cũng không phải màu sắc và không thể được đo lường trong bất cứ dạng thức vật lý nào, nhưng nó tồn tại trong tự bản chất tự nhiên và khả năng của nó để cảm nhận và ý thức.  Thời gian, trái lại, không thuộc sắc hay thức và thuộc vào đặc trưng thứ ba.

Tuệ trí siêu việt toàn tri liên hệ đến thức biết mọi thứ.  Toàn tri không phải là một phẩm chất tìm thấy trong đất, đá, sỏi, hay núi non.  Nó được sản sinh bằng điều gì đấy mà chức năng của nó là tỉnh thức về các đối tượng, và do thế nó không thể được sản sinh bởi bất cứ điều gì thiếu sự tỉnh thức thích đáng.  Dĩ nhiên, thể trạng toàn tri là mục tiêu căn bản chứa đựng mọi thứ toàn hảo, và trong ba đặc trưng của những hiện tượng duyên sinh nó thuộc đặc trưng của thức.  Biết hay thấu hiểu là chức năng của thức.  Thí dụ, khi chúng ta nói, "tôi hiểu" hay "tôi thấy" và chúng ta có một kinh nghiệm hay cảm giác về điều gì đấy, kinh nghiệm được khởi động bằng thức.  Khi nhãn thức thấy một hình thể vật lý, chúng ta nói, "tôi thấy một hình thể vật lý," và khi tâm kinh nghiệm hạnh phúc hay đau khổ, chúng ta nói, "tôi hạnh phúc," hay "tôi đau khổ".  Vì thế, khi chúng ta nói, "tôi kinh nghiệm", "tôi thấy", hay "tôi nghe", v.v..., đấy là thức hoạt động như một tác viên.  Điều sở hữu chức năng của cái biết là thức.

Thức đa dạng trong phạm vi sự hiểu biết của chúng và trong cường độ hay sự sắc bén của chúng.  Một thí dụ rõ ràng là thức của một con người so sánh với thức của một con thú.  Nhận thức của con người là rộng lớn hơn và nó hiểu biết các đối tượng đa dạng hơn rất nhiều.  Các thức của con người phong phú với học vấn và kinh nghiệm - càng học vấn nhiều hơn chúng ta càng có kinh nghiệm hơn, thức của chúng ta càng rộng rãi hơn.  Kiến thức và hiểu biết phát triển trên cản bản của thức có khả năng nhận thức các dối tượng của nó.  Khi những điều kiện cần thiết được chạm trán, khả năng của nó để nhận thức gia tăng, phạm vi những đối tượng của nó về kiến thức mở rộng, và sự thấu hiểu sâu xa hơn.  Trong cách này tâm có thể phát triển toàn vẹn khả năng của nó.

Sự thông suốt tất cả là sự hoàn  hảo hay toàn thiện trọn đủ về khả năng của tâm để nhận thức các đối tượng. Sự thông suốt tất cả trong ý nghĩa rằng nó có thể biết mỗi một thứ mà không bị chướng ngại bởi sự khác biệt của thời gian và không gian.  Tuệ trí biết khắp phát sinh từ ý thức và bởi sự định nghĩa là nó được sản sinh bởi nguyên nhân và điều kiện.  Điều này hàm ý rằng ngay cả tuệ trí thông suốt tất cả không thể hiện hữu mà không có những nguyên nhân của nó.  Nếu không phải là trường hợp này, và một tâm hoàn thiện có thể sinh khởi mà không có nguyên nhân, nó sẽ có nghĩa là mỗi thức là hoàn hảo.  Đây là bởi vì nếu mọi thứ được sản sinh không có nhân duyên, thì hoặc là chúng phải tồn tại ở mọi thời hay chúng phải hoàn toàn không hiện hữu.  "Nếu mọi thứ được sản sinh không liên hệ trên những thứ khác, chúng sẽ không bị chướng ngại ở bất cứ nơi nào."  Điều này nói rằng nếu mọi thứ được sản sinh không phụ thuộc trên những nhân duyên khác, thì không có lý do hợp lý nào tại sao chúng pải bị chướng ngại tại bất cứ thời điểm nào.  Vì không phải là như thế này, nên một cách hợp lý là mọi thứ không thể được chuyển hóa thành sự hoàn hảo trọn vẹn.  Vì những lý do này, những hiện tượng thực tiển có thể được sản sinh vào những lúc nào đấy và không sinh khởi vào những lúc khác.  Vào những lúc nào đó, khi những điều kiện thích thú hiện diện và những điều kiện nghịch cảnh vắng bóng, một thức có thể được chuyển hóa thành sự toàn tri toàn giác có kiến thức về tất cả những hiện tượng.

Vì những thứ này không được sản sinh trong mọi lúc và mọi nơi, hàm  ý là chúng tùy thuộc trên nguyên nhân và điều kiện.  Trong khuôn khổ của sự lệ thuộc trên nguyên nhân và điều kiện, những người ngưỡng mộ kết quả sau cùng của toàn tri toàn giác phải tạo ra những nguyên nhân và điều kiện đúng đắn - những nguyên nhân và điều kiện hoàn hảo và đúng đắn.  Bên cạnh điều này, những mong mõi phải được động viên cao độ trong mục tiêu của chúng.  Do vậy, toàn tri toàn giác được dạy là tùy thuộc trên nguyên nhân và điều kiện (có nghĩa là toàn giác phụ thuộc trên nhân duyên).

Như được giải thích trong Toát Yếu Kiến Thức của Vô Trước với việc liên hệ đế những hệ quả được phát sinh bởi nguyên và điều kiện, những điều kiện là điều kiện không dao động, điều kiện vô thường,  và điều kiện tiềm tàng.  Những gì đã được nói trước đây quan tâm đến điều kiện vô thường.  Khi chúng ta nói về vấn đề toàn tri toàn giác có thể được phát sinh ý thức như thế nào, thì chúng ta đang nói về điều kiện tiềm tàng.  Khả năng để tỉnh thức về những đối tượng là một phẩm chất bẩm sinh của ý thức.  Chính bản chất của ý thức là nó trong sáng và tỉnh thức.  Nó sinh khởi trong khía cạnh của đối tượng mà nó lãnh hội.  Điều cống hiến tỉnh thức này không là điều gì đó mới được tạo tác bởi những nhân tố khác.

Bây giờ câu hỏi là sự tỉnh thức ấy có thể sinh trưởng và mở rộng đến một phạm vi vô hạn như thế nào.  Khả năng để tỉnh thức về những đối tượng của nó là phẩm chất bẩm sinh của của ý thức, nhưng có những thứ ngăn trở tâm khỏi việc mở đến thể trạng kiến thức hoàn toàn.  Câu hỏi kế là những thứ chướng ngại này xảy ra như thế nào.  Chúng ta cần quan tâm vấn đề những thứ chướng ngại đó có thể được tiêu trừ như thế nào.  Những gì cản trở ý thức từ việc tỉnh thức với đối tượng của nó là si mê là một nhận thức sai lầm về sự tồn tại chân thật[1], cũng liên hệ đến như si mê bám chặc một cực đoan, cực đoan cụ thể hóa.

Khi chúng ta nói về vô minh si ám, những gì chúng ta muốn nói đến là ý thức hoặc là thiếu vắng một điều kiện thích ứng nào đó, hay một điều kiện đối nghịch nào đó đang cản trở nó khỏi việc tỉnh thức với đối tượng của nó.  Trong nhiều loại si mê, si mê mà nhận thức sai lầm vể sự hiện hữu chân thật là gốc rể, kẻ nắm giữ quyền lực, có thể nói như thế.  Và si mê này là chướng ngại chủ yếu.  Chúng ta cần đi đến kết luận qua sự phân tích rằng sự si mê này là điều gì đấy có thể tiêu trừ và loại bỏ.  Những nhược điểm của tâm sinh khởi một cách chính yếu qua si mê và khả năng tiềm tàng của nó.  Chúng ta cần khảo sát và quyết định có phải si mê có thể tách khỏi tâm được hay không, và si mê có thể đi đến chấm dứt được hay không.  Si mê trong phạm vi này không chỉ là ngu ngốc, nhưng si mê là nhận thức sai lầm về sự tồn tại chân thật.  Nó là một tâm nhận thức sai lầm một cách ngoan cố đối tượng của nó.  Do vậy, bằng việc trau dồi một sự thấu hiểu không sai lầm như sự đối trị của  nó, chúng ta có thể loại trừ nó.

Cả si mê là nhận thức sai lầm về sự tồn tại chân thật và sự đối trị nó đều lệ thuộc trên những nguyên nhân và điều kiện.  Chúng giống như được sinh trưởng khi tiếp xúc với những điều kiện thích hợp và chấm dứt tồn tại khi chạm trán với những nhân tố nghịch duyên.  Chúng ta có thể hỏi, những gì khác biệt giữa hai thứ ấy, si mê và sự đối trị nó?  Vì si mê là một sự hiểu sai về sự tồn tại chân thật là một tâm sai lầm trong sự chú ý đến đối tượng của nó, nên nó không thể phát triển một cách vô giới hạn.  Đây là bởi vì nó không có một sự hổ trợ hợp lý.  Tâm này là sai lầm, hay ngoan cố, trong ý nghĩa là cách nó nhận thức đối tượng là đối nghịch với cung cách thật sự mà đối tượng hiện hữu.  Tâm nhận thức vô ngã là một sự đối trị, hay đối kháng, đến si mê và không lầm lẫn trong sự lưu ý đến đối tượng của nó.  Nên có thể nói rằng, nó quan tâm một cách đúng đắn với đối tượng của nó, có nghĩa là cách nó nhận thức đối tượng của nó y theo cách mà đối tượng tồn tại một cách thật sự.  Bởi vì nó không phải là một nhận thức sai lầm, nó có một căn bản hợp lý hổ trợ.

Như đã nói phía trước rằng si mê là một nhận thức sai lầm về sự tồn tại chân thật là có thể đưa đến chỗ chấm dứt.  Đây là bởi vì tâm si mê không có sự hổ trợ của một nhận thức hợp lý.  Trái lại, tâm nhận thức bản chất vô ngã của một đối tượng thật có sự hổ trợ của một nhận thức hợp lý. Những phương thức mà hai tâm này nhận thức các đối tượng là trái ngược nhau. Tâm nhận thức bản chất bản chất vô ngã của một đối tượng là một sự đối trị đầy năng lực chống lại tâm si mê, và do thế, tâm si mê có thể được chiến thắng.  Sự tương đồng này đối với phương thức mà trong ấy bất cứ khía cạnh nào của nổi khốn khổ có thể được giảm thiểu khi những phương pháp thích đáng được áp dụng để chống lại nó. Đấy là chính trong bản chất của mọi vật là khả năng của chúng bị giảm thiểu khi chạm trán với những nhân tố đối kháng.

Tâm nhận thức thực tại được liên hệ như sự tỉnh thức siêu việt và là một phẩm chất tich cực của tâm.  Nó được sự hổ trợ của một nhận thức hợp lý.  Trong bản chất của tâm khi chúng ta tập cho mình quen với một phẩm chất tích cực thì nó có thể phát triển một cách vô hạn.  Không giống như tâm, những phẩm chất tích cực của thân thể  không có phẩm chất này để có thể mở rộng đến vô hạn.  Điều này đơn giản là qua sự kiện rằng thân thể được cấu thành bởi những yếu tố thô thiển, và những thuộc tính thô thiển của hình sắc thô thiển như vậy không có khả năng để khuếch trương vô hạn.

Khi chúng ta nói rằng tâm si mê là ngoan cố  hay sai lầm, chúng ta đang nói về phương cách nó nhận thức sai lầm thực tại.  Bây  giờ những câu hỏi thích đáng là:  Thực tại là gì?  Tâm này lầm lẫn thực tại như thế nào?  Và tâm lãnh hội thực tại một cách sai lầm trong cách nào?  Thực tại hay tính không của sự tồn tại chân thật là điều gì đó có thể được thiết lập một cách hợp lý (logically).  Điều này nghe đúng đắn, hay hoàn hảo, những lý do để minh chứng tính không của sự tồn tại cố hữu (tính không của tự tính), và chúng ta có thể đạt được sự thuyết phục trong những lý do này.  Trái lại, không có cách nào để chứng minh sự tồn tại chân thật.  Sự tồn tại chân thật là những gì xuất hiện đến ý thức thông thường, không rèn luyện.  Nhưng khi ở dưới sự phân tích tỉ mỉ, thì không thể tìm thấy được sự tồn tại chân thật.  Ngay cả trong đời sống hằng ngày của chúng ta, chúng ta thường thấy những mâu thuẩn giữa phương cách những vật nào đấy xuất hiện và kiểu mẫu tồn tại thật sự của chúng; đó là, cách mà mọi vật thật sự tồn tại khác biệt với cách chúng xuất hiện để tồn tại.  Quan điểm này có thể được làm sáng tỏ một cách hoàn toàn đơn giản: trong những mối liên hệ trần gian, chúng ta nói về người nào đó bị làm cho thất vọng hay vở mộng.  Sự tan vở ảo tưởng sinh khởi qua sự không nhất quán giữa cách một hoàn cảnh xuất hiện để là và cách nó thật sự là.

Chúng ta hãy thẩm tra hoàn cảnh của chúng ta như một con người.  So sánh với thú vật , tâm chúng ta mạnh mẽ hơn rất nhiều.  Chúng ta có năng lực phân tích có hay không một thực tại vượt khỏi trình độ của hiện tướng, trái lại thú vật chỉ đối phó với những gì xuất hiện đến chúng.  Điều này là rất rõ ràng, giống như những con người khác  nhau có những khả năng tinh thần khác nhau.  Khi chúng ta thẩm tra chúng một cách sâu sát, nhiều tâm được thấu hiểu một cách phổ thông như nhận thức đáng giá cũng lầm lẫn trong một ý nghĩa sâu xa hơn.  Phương thức các hiện tượng thật sự tồn tại là khác hơn những gì xuất hiện đến những tâm như vậy.  Chúng ta nhận thức thực tại hay tính không một cách thông thường như tồn tại một cách khác biệt với cách chúng thật sự tồn tại.  Nhận thức của chúng ta về những thứ vô thường như những rặng núi và nhà cửa không phù hợp với kiểu mẫu chúng thật sự tồn tại.  Một vài thứ này đã tồn tại trong nhiều thế kỷ, ngay cả hàng ngàn năm.  Và những tâm chúng ta nhận thức chúng chính trong cách ấy - như trường cửu và thường còn, không bị tác động với sự thay đổi từng giây phút.  Tuy thế, khi chúng ta thẩm tra những đối tượng này trên một trình độ vi tế, chúng tan rả trong từng thời khắc.  Chúng chịu đựng sự thay đổi từng chốc lát.  Khoa học cũng diễn tả một kiểu  mẫu thay đổi tương tự.  Những đối tượng này xuất hiện chắc chắn, vững vàng, và lâu dài, nhưng trong bản chất thật sự của chúng, chúng thay đổi liên tục, không đứng yên ngay cả trong một phút chốc.

***
Đáng lẻ đầu đề bài này phải để "Tâm là gì?" tuy nhiên trước đây đã có một bài cùng tên, nên bài này có tựa đề "Tâm là thế nào?"
Nguyên bản: What is the mind? trích từ quyền Stages of Meditation
Ẩn Tâm Lộ ngày 29-3-2012


[1] True existence - sự tồn tại chân thật, có khi được được dịch là sự tồn tại cố hữu - inherently existence - hay tự tính

Đăng ký lấy RSS cho bình luậnBình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha